'Nếu bạn có thể học lái xe được thì bạn cũng có thể học để hạnh phúc được,' Matthieu Ricard, người được các nhà khoa học cho là hạnh phúc nhất trên trái đất.

‘Mọi thứ đều thuộc về chính chúng, chẳng thuộc về ai cả,’ Osho, Ngón tay Chỉ trăng

Tình yêu không phải là đối nghịch của thù hận. Tình yêu là cái toàn thể, và do vậy, nó không có cái đối nghịch!

‘Cuộc sống không chấp nhận đòi hỏi của bất kỳ ai về nó và cứ tiếp tục trôi đi mỗi khoảnh khắc’ Osho, Ngón tay Chỉ trăng

'Bản chất của bạn là hạnh phúc. Ham muốn điều đó chẳng có gì là sai. Sai lầm là ở chỗ đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài trong khi nó ở bên trong,' Ramana Maharshi — 'Happiness is your nature. It is not wrong to desire it. What is wrong is seeking it outside when it is inside.' Ramana Maharshi —

'Không có hạnh phúc nào bằng sự an tĩnh trong tâm hồn! —

Showing posts with label Tiểu luận. Show all posts
Showing posts with label Tiểu luận. Show all posts

Tuesday, May 20, 2014

Ngoại quan và thực tại

Tác giả: Bertrand Russell----
Liệu có loại tri thức nào chắc chắn tới độ không ai có lí tính lại có thể hoài nghi? Câu hỏi này, thoạt xem có vẻ không khó, nhưng thực sự lại là một trong số những câu hỏi hóc búa nhất có thể đặt ra. Khi chúng ta nhận ra được những chướng ngại cho một câu trả lời thẳng thắn và tin cậy, chúng ta sẽ bước vào lãnh địa nghiên cứu triết họcvì triết học đơn thuần là nỗ lực giải đáp các câu hỏi rốt ráo như thế, không cẩu thả và võ đoán, như chúng ta vẫn thường như vậy trong đời thường và ngay cả trong khoa học, mà mang tính phê phán, sau khi thăm dò tất cả những gì khiến cho những câu hỏi ấy thành ra khó trả lời, và sau khi nhận ra mọi sự mơ hồ và bối rối tiềm ẩn dưới những ý niệm thông thường của chúng ta.  

Trong sinh hoạt hàng ngày, chúng ta giả định nhiều sự việc là chắc chắn, thế nhưng khi khảo sát kĩ hơn lại phát hiện đầy dẫy những mâu thuẫn mà chỉ có nhờ tư duy sâu xa chúng ta mới có thể biết điều mà chúng ta thực sự tin tưởng là gì. Trong cuộc tìm kiếm tính chắc chắn, theo tự nhiên chúng ta xuất phát từ những kinh nghiệm hiện tại của mình, và trong ý nghĩa nào đó tri thức phát sinh từ những kinh nghiệm đó. Thế nhưng, bất cứ phát biểu nào về điều mà chúng ta biết được qua kinh nghiệm trực tiếp của chúng ta rất có thể lại là sai. Có vẻ như với tôi hiện tại tôi đang ngồi trên một cái ghế, bên một cái bàn có hình dạng nhất định, từ đó tôi nhìn thấy những tờ giấy có chữ viết hay chữ in. Khi ngoảnh đầu, tôi thấy bên ngoài cửa sổ những toà nhà, mây, và mặt trời. Tôi tin rằng mặt trời cách xa quả đất khoảng chín mươi ba triệu dặm [khoảng 150 triệu cây số]; rằng nó là một quả cầu nóng và lớn hơn quả đất gấp nhiều lần; rằng nhờ quả đất tự xoay quanh nó, mặt trời mọc mỗi sáng, và sẽ tiếp tục như thế suốt một thời gian bất định trong tương lai. Tôi tin rằng, nếu bất kì người bình thường nào khác vào trong phòng tôi, người ấy sẽ nhìn thấy cũng ghế, bàn, sách và giấy như tôi nhìn thấy, và cái bàn mà tôi thấy cũng là cái bàn mà tôi cảm thấy qua cánh tay đang áp sát vào bàn. Tất cả điều này có vẻ hiển nhiên đến mức hầu như không có gì đáng nói, ngoại trừ khi trả lời một người nghi ngờ liệu tôi có biết gì hay không. Tuy nhiên, việc nghi ngờ tất cả những điều này là hoàn toàn có lý, và tất cả đòi hỏi chúng ta phải thảo luận rất cẩn thận trước khi có thể cầm chắc rằng chúng ta đã phát biểu theo một cách thức hoàn toàn xác thực.  
 
Để cho vấn đề dễ hiểu, chúng ta hãy tập trung vào cái bàn. Với mắt nhìn, nó có hình chữ nhật, màu nâu và sáng bóng, với xúc giác, nó nhẵn, mát, và cứng; khi tôi gõ nhẹ, nó phát ra âm mộc. Bất kì ai khác nhìn thấy, cảm thấy, và nghe thấy cái bàn sẽ đồng ý với lối miêu tả này, vì thế gần như không thể có khó khăn nào nảy sinh; thế nhưng vừa khi chúng ta cố muốn chính xác hơn thì vấn đề lại nảy sinh. Mặc dù tôi tin rằng cái bàn 'thực sự' toàn bộ có cùng một màu sắc, những phần nào phản quang thì trông sáng hơn nhiều so với những phần khác, và một số phần có vẻ màu trắng do ánh sáng phản chiếu. Tôi biết, nếu tôi di động, các phần phản quang sẽ khác nhau, vì thế sự phân bố các màu sắc trên cái bàn sẽ thay đổi. Do vậy, nếu có một số người đồng thời nhìn vào cái bàn, không có chuyện hai người cùng nhìn thấy sự phân bố màu sắc giống hệt nhau, bởi không có chưyện cả hai người nhìn vào đó từ cùng một góc nhìn, và bất cứ thay đổi nào về góc nhìn đều tạo ra thay đổi trong cách mà ánh sáng phản chiếu.

Đối với những mục đích thực dụng nhất thì những khác biệt này không quan trọng, nhưng đối với người hoạ sĩ thì chúng lại cực kì trọng yếu: người hoạ sĩ phải bỏ thói quen cho rằng sự vật dường như có màu sắc mà chúng ta cho rằng chúng 'thực sự' có theo lối suy nghĩ thông thường, và học nhìn sự vật theo như chúng biểu hiện. Ở đây, chúng ta vừa bắt đầu đi vào một trong những sự phân biệt vốn gây ra nhiều vấn đề nhất trong triết họcsự phân biệt giữa 'ngoại quan' và 'thực tại', giữa những gì sự vật có vẻ là với những gì chúng là. Hoạ sĩ muốn biết những gì sự vật có vẻ là, người thực tiễn và nhà triết học muốn biết những gì chúng là; nhưng mong muốn biết của nhà triết học về điều này mạnh mẽ hơn mong muốn của người thực tiễn, và vấp phải nhiều vấn đề hơn do tri thức liên quan tới những khó khăn trong giải đáp câu hỏi.

Trở lại với cái bàn. Như vậy, chúng ta đã thấy rõ rằng không có màu nào là màu của cái bàn, hoặc bất cứ phần nào của cái bàn cả— cái bàn có những màu khác nhau từ những góc nhìn khác nhau, và không có lí do gì để coi một số màu nào đó mới thực sự là màu của cái bàn. Và chúng ta biết rằng ngay cả từ một góc nhìn nào đó, màu sắc sẽ có vẻ khác nhau do ánh sáng nhân tạo, hoặc đối với người mù màu, hoặc với người mang cặp kính màu lam, khi ở trong bóng tối sẽ không còn màu sắc nào nữa, tuy đối với xúc giác và thính giác thì cái bàn không thay đổi. Màu sắc này không phải là cái gì đó cố hữu trong cái bàn, mà là cái gì đó phụ thuộc vào cái bàn, vào người xem và vào phương thức ánh sáng hắt lên bàn. Trong đời thường, khi chúng ta nói về “màu của cái bàn”, thực ra chúng ta chỉ có ý nói tới loại màu sắc mà có vẻ như là của cái bàn trong mắt người xem bình thường từ một góc nhìn thông thường dưới những điều kiện ánh sáng bình thường. Thế nhưng những màu khác xuất hiện dưới những điều kiện khác đều có quyền chính đáng được coi là thật; và do đó để tránh sự thiên vị, chúng ta buộc phải khẳng định rằng cái bàn trong tự thân của nó không có bất kì màu đặc thù nào.    

Đối với kết cấu gỗ cũng tương tự. Bằng mắt thường người ta có thể thấy vân gỗ, nhưng mặt khác, cái bàn trông nhẵn và phẳng. Nếu nhìn qua kính hiển vi, chúng ta sẽ thấy độ gồ ghề, đồi núi và thung lũng, và đủ mọi loại khác biệt vốn không thể nhận thấy bằng mắt thường. Cái nào trong những thứ này là cái bàn 'thật'? Chúng ta tự nhiên có xu hướng cho rằng những gì thấy qua kính hiển vi là thật hơn, nhưng điều đó lần lượt sẽ còn thay đổi qua một loại kính hiển vi có độ phóng đại lớn hơn. Vậy thì, nếu chúng ta không thể tin cậy vào những gì thấy được bằng mắt thường, tại sao chúng ta lại tin cậy những gì thấy qua kính hiển vi? Như vậy, một lần nữa, sự tin tưởng vào các giác quan mà từ đó chúng ta xuất phát, lại bỏ rơi chúng ta.          

Hình dạng cái bàn cũng không khả quan hơn. Chúng ta tất cả đều có thói quen phán đoán dựa theo những hình dạng 'có thật' của sự vật, và chúng ta làm điều này rất ư khinh suất đến độ cho rằng mình thực sự nhìn thấy những hình dạng có thật. Nhưng, trên thực tế từ những góc nhìn khác nhau thì hình dạng của các vật là khác nhau. Nếu cái bàn của chúng ta 'thực sự' là hình chữ nhật, nó sẽ trông có vẻ, hầu như từ mọi  góc nhìn, như thể nó có hai góc nhọn và hai góc tù. Nếu những cạnh đối lập song song, trông chúng sẽ như thể nhập về một điểm ở xa người nhìn; nếu chúng có độ dài bằng nhau, trông sẽ như thể cạnh gần hơn thì dài hơn. Thông thường khi nhìn vào một cái bàn người ta không để ý đến tất cả những điều này, bởi vì kinh nghiệm đã dạy chúng ta dựng nên hình dạng 'có thật' từ hình dạng bề ngoài, và hình dạng 'có thật' là những gì làm chúng ta quan tâm với tư cách là những người thực tiễn. Nhưng hình dạng 'có thật' không phải là những gì chúng ta thấy; nó là cái gì đó được suy ra từ  những gì chúng ta thấy. Và những gì chúng ta thấy liên tục thay hình đổi dạng trong khi chúng ta di chuyển quanh căn phòng; vì thế, một lần nữa ở đây những giác quan dường như không cho chúng ta sự thật về bản thân cái bàn, mà chỉ cho chúng ta biết về vẻ ngoài của nó.   

   
Những khó khăn tương tự phát sinh khi chúng ta xem xét từ góc độ xúc giác. Đúng là cái bàn luôn cho chúng ta một cảm giác về sự cứng rắn, và chúng ta cảm thấy rằng nó đề kháng áp lực. Nhưng cảm giác chúng ta có được phụ thuộc vào sức ấn xuống bàn của chúng ta mạnh tới đâu và vào phần thân thể nào tiếp xúc với bàn; vậy, không thể giả định rằng những cảm xúc khác nhau do những áp lực khác nhau hoặc các phần thân thể khác nhau cho ta biết được bất cứ tính chất xác định nào của cái bàn, mà nhiều nhất là ta chỉ có thể biết những dấu hiệu về tính chất nào đó, cái mà có lẽ đã gây ra những cảm giác khi ta chạm vào nhưng lại không rõ ràng trong bất kì một cảm giác nào. Và đối với âm thanh cũng vậy.  
Như thế, rõ ràng là cái bàn thật, nếu có một thứ như vậy, không phải là những gì chúng ta kinh nghiệm trực tiếp qua việc thấy hoặc sờ hoặc nghe. Chúng ta cũng không thể biết được một cách trực tiếp cái bàn thật, nếu có một thứ như vậy, mà chỉ có thể suy đoán từ những gì chúng ta biết. Vì thế, nảy ra hai câu hỏi hóc búa đó là, (1) Liệu có một cái bàn thật không? (2) Nếu có, vậy nó thuộc loại đối tượng nào?     
Một vài thuật ngữ đơn giản, có nghĩa rõ ràng, sẽ giúp chúng ta trong việc xem xét hai câu hỏi trên. Chúng ta hãy đặt tên 'dữ liệu-giác quan' cho những thứ mà chúng ta trực tiếp biết được qua giác quan: như màu sắc, âm thanh, mùi vị, độ cứng, gồ ghề, vân vân. Chúng ta sẽ đặt tên 'cảm xúc' cho kinh nghiệm trực tiếp nhận thức về những thứ này. Như vậy, hễ khi chúng ta thấy một màu, chúng ta có một cảm xúc về màu, nhưng màu sắc tự thân là một dữ liệu-giác quan, không phải một cảm xúc. Màu sắc thì thuộc cái chúng ta nhận thức trực tiếp, và nhận thức này tự thân nó là một cảm xúc. Rõ ràng là nếu chúng ta biết điều gì về cái bàn, tất phải bằng phương tiện của dữ liệu-giác quan—màu nâu, hình chữ nhật thuôn, độ nhẵn, vân vân—; nhưng, vì những lí do đã nêu, chúng ta không thể nói rằng cái bàn là dữ liệu-giác quan, hoặc dữ liệu-giác quan là những tính chất trực tiếp của cái bàn. Như thế, một vấn đề nảy sinh cùng với mối quan hệ về dữ liệu-giác quan với cái bàn thật, cứ giả định là có một thứ như thế.     
Chúng ta sẽ gọi cái bàn thật, nếu nó tồn tại, là một 'đối tượng vật lí'. Như vậy, chúng ta phải xem xét mối quan hệ giữa những dữ liệu-giác quan với những đối tượng vật lí. Sự tập hợp tất cả các đối tượng vật lí được gọi là 'vật chất'. Vì thế, hai câu hỏi của chúng ta có thể phát biểu lại như sau: (1) Liệu có thứ gì đại loại như là vật chất? (2) Nếu có, tính chất của nó là gì?  
Triết gia đầu tiên lý giải rằng những đối tượng trực tiếp của những giác quan đều không tồn tại độc lập với chúng ta, là Giám mục George Berkeley (1685-1753). Tác phẩm của ông, Ba cuộc đối thoại giữa Hylas và Philonous, Đối lập với những kẻ hoài nghi và những kẻ vô thần, đã cất công chứng minh rằng không có gì đại loại như là vật chất, rằng thế giới bao gồm không có gì ngoài tâm trí và ý niệm của chúng ta. Hylas cho đến giờ đã tin vào vật chất, nhưng ông không phải là đối thủ của Philonous, người đã dồn ông một cách không thương xót vào những mâu thuẫn và nghịch lí, và rút cuộc, khiến ông tự phủ nhận vật chất, như thể việc đó hầu như là lẽ thường. Những luận chứng mà họ áp dụng có giá trị rất khác nhau: một số thì trọng yếu và vững chắc, những luận chứng khác thì mơ hồ hay lập lờ. Nhưng Berkeley vẫn giữ được công trạng khi cho thấy sự tồn tại của vật chất có khả năng bị phủ nhận mà không phi lí, và nếu có bất cứ những gì tồn tại một cách độc lập với chúng ta, chúng không thể là cái mà chúng ta có thể trực tiếp biết được qua cảm xúc.
Có hai câu hỏi nảy ra khi chúng ta hỏi vật chất có tồn tại hay không, và điều quan trọng là phải giữ cho chúng được rõ ràng. Thông thường khi nói đến 'vật chất', chúng ta nói đến cái gì đó đối lập với 'tâm trí', là cái gì đó mà chúng ta cho rằng vừa chiếm cứ không gian vừa triệt để không có khả năng nào về tư duy hoặc ý thức. Chủ yếu theo nghĩa này mà Berkeley phủ nhận vật chất; tức là, ông không phủ nhận rằng dữ liệu-giác quan, cái mà chúng ta thường đánh đồng với những dấu hiệu về sự tồn tại của cái bàn, là những dấu hiệu thực sự về sự tồn tại của cái gì đó độc lập với chúng ta, mà ông phủ nhận cái-gì-đó này là phi tâm trí, rằng nó cũng không phải tâm trí cũng không phải là những ý niệm của tâm trí nào đó. Ông thừa nhận rằng, tất phải có gì đó còn tiếp tục tồn tại khi chúng ta ra khỏi căn phòng hoặc nhắm mắt lại, và những gì chúng ta gọi là nhìn thấy cái bàn thì thực tế cho chúng ta lí do để tin tưởng vào cái-gì-đó và nó còn đó ngay cả khi chúng ta không nhìn thấy nó. Nhưng ông cho rằng cái-gì-đó này không thể khác triệt để về tính chất với những gì chúng ta thấy, và không thể độc lập luôn với việc nhìn, mặc dù nó phải độc lập với cái nhìn của chúng ta. Như thế, ông đã dẫn tới việc xem cái bàn 'thật' như là một ý niệm trong tâm trí của Thượng đế. Một ý niệm như thế mang tính vĩnh hằng đòi phải có và sự độc lập với chính chúng ta, dù không là—như vật chất phải là, nếu không như vậy—một thứ gì hoàn toàn không thể biết được, theo cái nghĩa rằng chúng ta chỉ có thể suy đoán nó, và có thể không bao giờ biết một cách trực tiếp và tức khắc.    
Những triết gia khác sau Berkeley cũng chủ trương rằng, mặc dù sự tồn tại của cái bàn không phụ thuộc vào việc tôi nhìn thấy nó, nó quả là phụ thuộc vào việc được nhìn thấy (hoặc mặt khác được cảm nhận bằng cảm xúc) bởi tâm trí nào đó—không nhất thiết là tâm trí của Thượng đế, mà thường là bởi toàn thể tâm trí tập hợp của vũ trụ. Họ chủ trương điều này, như Berkeley từng làm, chủ yếu bởi vì họ cho rằng có thể không có gì là có thật—hoặc được biết là có thật ngoại trừ tâm trí, ý tưởng và cảm xúc của họ. Chúng ta có thể nói rõ luận chứng mà họ dùng để bảo vệ quan điểm của họ theo một cách đại loại như sau: 'Bất cứ gì có thể tư duy về, là một ý niệm trong tâm trí của người đang tư duy về nó; do đó, không gì có thể tư duy, ngoại trừ những ý niệm trong tâm trí; do đó, bất cứ điều gì khác đều là không thể quan niệm được, và điều gì không thể quan niệm được thì không thể tồn tại.'
Một luận chứng như thế, theo ý kiến tôi, là điều thác ngộ (fallacy); và tất nhiên người ta không đưa ra quá vắn tắt hoặc quá thô sơ như vậy. Thế nhưng dù có giá trị hay không, luận chứng này đã được thúc đẩy rộng rãi dưới hình thức này hay hình thức khác; và nhiều triết gia,có thể là đại đa số, đều đã chủ trương rằng không có gì là có thật ngoại trừ tâm trí và ý niệm của họ. Những triết gia đó được gọi là 'những nhà duy tâm'. Khi cần giải thích vật chất, hoặc là họ nói như Berkeley, rằng vật chất thực sự không là gì ngoài một tập hợp những ý niệm, hoặc họ nói, như Leibniz (1646-1716), rằng những gì xuất hiện như là vật chất thì thực sự là một tập hợp ít hay nhiều những tâm linh thô sơ.    
Nhưng những triết gia này, mặc dù họ phủ nhận vật chất như là cái gì đó đối lập với tâm trí, tuy nhiên, theo một nghĩa khác, họ thừa nhận vật chất. Nhớ lại rằng chúng ta đã nêu ra hai câu hỏi; đó là, (1) Liệu có một cái bàn thật không? (2) Nếu có, nó thuộc loại đối tượng nào? Vâng, cả Berkeley lẫn Leibniz thừa nhận rằng có một cái bàn thật, nhưng Berkeley nói rằng nó là những ý niệm nhất định trong tâm trí của Thượng đế, còn Leibniz cho rằng nó là một tập đoàn linh hồn. Như vậy, cả hai người trả lời câu hỏi thứ nhất của chúng ta bằng cách khẳng định, và duy nhất chệch ra khỏi những quan điểm của những người thường trong cách trả lời của họ đối với câu hỏi thứ nhì. Thực tế, hầu hết mọi triết gia gần như đồng ý rằng có một cái bàn thật: hầu như tất cả đều đồng ý điều đó, tuy nhiên phần lớn cái dữ liệu-giác quan của chúng ta—màu sắc, hình dạng, độ nhẵn, vân vân—có thể phụ thuộc vào chúng ta, thế nhưng sự cố của chúng là dấu hiệu về cái gì đó đang tồn tại độc lập ngoài chúng ta, là cái gì đó khác, và có lẽ hoàn toàn khác với dữ liệu-giác quan của chúng ta, thế nhưng lại được xem là nguyên nhân của những dữ liệu-giác quan đó hễ khi nào chúng ta ở trong quan hệ thích hợp với cái bàn thật.           
Hiển nhiên cái quan điểm mà các triết gia đều tán thành—quan điểm cho rằng có cái bàn thật, bất kể bản chất của nó là gì—là cực kỳ quan trọng, và cũng đáng bỏ thời gian xem xét những lí do nào dẫn đến việc người ta chấp nhận quan điểm này trước khi chúng ta chuyển sang những câu hỏi tiếp theo về bản chất của cái bàn thật. Chương tiếp theo, vì thế, sẽ nói tới những lí do nhằm giả định rằng có một cái bàn thật.    
Trước khi chúng ta đi xa hơn, nên dừng một lúc để xem xét coi chúng ta đã phát hiện được những gì cho đến giờ. Có vẻ như, nếu chúng ta xem xét bất cứ đối tượng thông thường nào thuộc loại mà chúng ta giả định là có thể biết qua giác quan, những gì chúng ta biết được qua các giác quan thì không phải là sự thật về đối tượng, mà chỉ là sự thật về những dữ liệu-giác quan nhất định, những cái mà trong chừng mực chúng ta có thể thấy, phụ thuộc vào những quan hệ giữa chúng ta và đối tượng. Như vậy, những gì chúng ta trực tiếp nhìn thấy và cảm thấy chỉ đơn thuần là 'ngoại quan', và chúng ta cho đó là dấu hiệu của một 'thực tại' nào đó ẩn đằng sau. Nhưng nếu thực tại ấy không phải những gì xuất hiện, liệu chúng ta có bất cứ phương tiện nào để biết có bất cứ thực tại nào hay không? Và nếu có, chúng ta có bất cứ phương tiện nào để tìm ra xem nó như thế nào hay không?
Những câu hỏi như thế đều gây bối rối, và thật khó biết rằng ngay cả những giả thuyết kì lạ nhất đều có thể là không đúng. Như thế, cái bàn quen thuộc của chúng ta vốn khơi dậy dù là những ý tưởng sơ sài nhất cho đến nay, đã trở nên một vấn đề đầy những khả năng gây kinh ngạc. Một điều chúng ta biết về nó, ấy là nó không phải là những gì trông như nó có vẻ. Vượt ra ngoài cái kết quả khiêm tốn này, cho đến giờ, chúng ta có sự tự do đầy đủ nhất để phỏng đoán. Leibnitz bảo chúng ta rằng đó là cộng đồng những linh hồn: Berkeley bảo chúng ta rằng đó là một ý niệm trong tâm trí của Thượng đế; khoa học nghiêm cẩn, chắc là không kém kì diệu, bảo chúng ta rằng đó là một tập hợp lớn những điện tích đang vận động mãnh liệt.       
Một trong số những khả năng gây ngạc nhiên này là người ta có thể hoài nghi nêu ra rằng có thể là không có cái bàn nào cả. Triết học, nếu nó không thể giải đáp quá nhiều câu hỏi như chúng ta kì vọng, ít nhất nó có khả năng chất vấn để làm tăng mối quan tâm về thế giới, và cho thấy tính lạ lùng và ảo diệu tiềm ẩn dưới bề mặt, ngay cả trong những sự vật thông thường nhất của đời sống thường ngày.
Hà Vũ Trọng dịch

*Nguồn: The Problems of Philosophy (Những vấn đề của triết học) của Bertrand Russell, 1912; Chương I: 'Appearance and Reality'

Monday, May 19, 2014

Sự Vận Hành Của Cái Trí


Cái Trí Không Chính Xác - - -
Vấn đề tiên quyết của cái trí là sự thiếu chính xác của nó. Cái gọi là “kiến thức” của cái trí thường nầy quả thật “không chính xác”. Dưới đây là ba thí dụ gồm những kết luận thiếu chính xác của cái trí:
Thí dụ thứ nhất: khi mắt bạn nhìn thấy bạn gieo một hạt giống xuống đất, một thời gian ngắn sau, mắt lại thấy nơi đó mọc lên một cái cây, cái trí kết luận là “cây đó tôi trồng” và thậm chí còn đi xa hơn, quả quyết rằng “cây đó của tôi.” Nói thực tế chính xác thì mắt chỉ nhìn thấy hai việc: Một là tay bạn gieo hạt giống, hai là tại chỗ ấy có một cây mọc. Chỉ thấy biết vỏn vẹn hai điều trên, cái trí đã kết luận rằng hiện tượng thứ hai (cây) là kết quả của hiện tượng thứ nhất (gieo hạt giống).
Cái sai hoặc không chính xác ở đây là mắt không hề nhìn thấy nhiều yếu tố khác nữa đã tạo nên cái cây kia như: đất, nước, không khí, ánh nắng mặt trời, khoáng chất, phân bón v.v.
Nhưng ngược lại, nếu kết luận rằng “cái hạt giống là do tôi trồng và cũng nhờ đất, nước, mặt trời, v.v. mà cây mọc lên” thì cái kết luận của cái trí phàm nầy cũng vẫn không chính xác. Tại sao không? Bởi vì mắt “thật sự” chỉ “thấy” việc gieo một hạt giống và thấy có một cái cây mọc lên mà thôi chứ có thấy gì khác đâu! Cái trí lấy kiến thức có sẵn từ “kho” trí nhớ (đất, nước, ánh sáng, v.v…) ráp vô với hiện tượng vừa thấy-biết (gieo hạt và một cây mọc lên) rồi đi đến một kết luận.  Tuy nhiên, biết đâu cái cây đó là do một hột giống khác, do một người khác trồng, do một ngàn lẻ một lý do khác thì sao? Do đó, khi mắt nhìn thấy “A” rồi thấy tiếp theo là “B”, chưa chắc gì “B” là kết quả của “A”. Vì vậy, cái trí chính xác là cái trí chỉ thấy và biết “A” là “A”, “B” là “B”, không kết luận lung tung thêm.
            Thí dụ thứ hai: Khi vị thầy thuốc “chữa bịnh” xong, bịnh nhân hết bịnh. Cái trí của vị thầy thuốc kết luận: “tui chữa hết bịnh”. Cái trí đó có thể cũng không chính xác vì biết đâu thầy thuốc “chữa bịnh” xong, rất có thể là muôn ngàn thứ khác như thực phẩm, hơi thở, tinh thần thay đổi, tâm trí yên vui, duyên nghiệp đã dứt .v.v hợp với cái “chữa bịnh” kia đã làm cho bịnh nhân hết bịnh. Cái trí không hề nhận được những thông tin nầy. Nhưng cho dù nó có nhận được đi nữa, nhưng những kết luận của cái trí phàm nầy đều có khả năng bị sai. Cũng như khi chữa mà bịnh nhân không hết bịnh hoặc chết thì cũng không thể kết luận là do thầy thuốc tồi quá hoặc kết luận là thuốc dở quá.
Thí dụ thứ ba: Vợ chồng giao hợp, sau chín tháng sinh ra một “con người” nhỏ xíu. Cái trí kết luận rằng: “Con người đó tôi tạo nên, nó là con của tôi. Nó thuộc về tôi.” Cái trí kết luận như thế mặc dù nó không biết có thể còn có những nhân duyên bí ẩn nào hoặc lực nào đã phối hợp để đưa cái “sinh mệnh” kia vào cuộc đời nầy hay chăng?
Trong những thí dụ nầy, cho dù cái trí có kết luận khác đi bằng cách dùng những kiến thức cất chứa sẵn chăng nữa thì cũng vẫn không chính xác vì cái trí luôn bị giới hạn trong cái “biết” của nó.  Trong cái quan sát giới hạn, nó có thói quen diễn giải, lý luận và đem những “kiến thức” cũ lắp vào các khoảng trống của hiểu biết. 
Khái niệm trên có thể áp dụng cho cả hữu hình lẫn vô hình. Khi người có khả năng “nhìn” thấy một hình ảnh trong cõi vô hình rồi đi đến một kết luận nào đó thì vẫn phải xét lại mức độ chính xác của cái trí lúc đó. Thậm chí, ngay cả những khả năng “nhìn thấy” được tiền kiếp của một người cũng thường bị cái trí phàm kết luận “ẩu” như trên.
Cái trí chính xác phải là cái trí của Tĩnh Lặng, chỉ nhận thông tin mà không hề thêm bớt gì. Hoặc giả khi cần diễn giải hay suy luận thì cái trí ấy ở trong Tĩnh Lặng, đồng thời luôn ý thức rằng mình đang suy luận, diễn giải và cũng “ý thức” rằng cái kết luận của mình luôn có thể là không chính xác.
Tại sao chúng ta cần phải dùng cái trí “chính xác” trên đây cho tất cả hiện tượng trong đời sống? Ta cần dùng nó là để giúp ta thoát ra khỏi cái đau khổ do cái nhìn sai lệch của trí phàm gây nên.
Nói tóm lại, cứ mỗi khi cái trí đi đến một “kết luận” nào, ta nên ý thức về cái của nó. Cái nhìn, cái tiến trình như thế nào mới gọi là chính xác? Đó là cái nhìn hiện thực qua một tâm trí trong sự Tĩnh Lặng hoàn toàn. Nó diễn ra mà không xét đoán, phê phán, đề nghị hoặc diễn giải. Nó chỉ là những quan sát và nhận biết trong yên bình.
Những Cái Nên Và Không Nên Của Cái Trí
Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn một khi “cái trí không chính xác” dựa trên những kiến thức sai lệch của nó mà phán xét. Sau đây là những tư tưởng điển hình thường xuất hiện trong tiến trình của cái trí đó.  Bản thân các câu nầy không gây đau khổ nhưng khi cái trí cứ nhất định áp dụng nó trong mọi trường hợp, bất kể mọi lý lẽ, thì sự phiền não sẽ đến ngay. Những thí dụ dưới đây cho thấy cái trí đã vào tìm kiếm ở ngăn ký ức, nơi mà nó đã ghi được mọi thứ: từ nghe, thấy và trải nghiệm, đến các tập tục, lề lối, quy ước và mong muốn, rồi khư khư áp dụng những giá trị và quan niệm cũ nầy vào các quan sát mới. Rồi nếu thế giới chung quanh không tuân thủ theo, cái trí bị cảm thấy bực bội. Có thể nó sẽ lải nhải liên tục hoặc nó sẽ vật vã, phiền não vô cùng. Nếu những tư tưởng nầy lặp đi lặp lại trong đầu và gây phiền não cho bạn thì pháp Tại và Hiện đúng là dành cho bạn đấy!
Những thí dụ sau đây cho ta thấy cách cái trí lấy dữ liệu từ các giác quan, rồi áp dụng đòi hỏi và phán xét của nó để gây bực bội, phiền não cho ta:
~Thị giác: “Quan niệm của tôi là phải sống một cách ngăn nắp, thứ tự, sạch sẽ … Vì thế mắt tôi muốn luôn luôn nhìn thấy mọi thứ được sắp xếp thứ tự, ngăn nắp, chỗ nào cũng sạch sẽ… Tôi cảm thấy rất khó chịu khi phải sống chung với những người có tính bê bối, không gọn gàng… Họ nên sống cuộc đời họ sạch sẽ, khỏe mạnh hơn.”   
~Thính giác: Lỗ tai tôi không thích nghe những tiếng động gây ồn ào một cách vô ý thức. Tôi rất bực mình khi người khác đóng cửa mạnh, lê giày dép lẹp xẹp, rửa chén khua lẻng kẻng, nói to khi dùng phone di động hay nói ồn ào khi xem phim trong rạp.”
~Vị giác: “Tôi ăn uống khá kén chọn. Không hợp khẩu vị thì thà nhịn đói chứ không ăn. Lên bữa ăn mà thực phẩm dở, không thơm ngon, tôi cảm thấy rất bực mình.”
Cái trí của chúng ta còn có khả năng làm những phán đoán phức tạp và tinh vi hơn dựa trên những quan sát của nó. Cái trí nắm giữ và dùng một số định kiến để làm méo mó những thông tin từ ngoài vào. Các định kiến thường là về sự liên hệ, giá trị, vai trò và bản thân.
~Giá Trị: “Nếu mặc cái áo nầy ra đường, người ta sẽ cười tôi (nhà quê, nghèo, già v.v...) hay người ta sẽ khen tôi (sang trọng, đẹp, hợp thời trang v.v…) Tôi nhìn người kia ăn mặc, đi loại xe nào, dáng dấp ra sao v.v.) là tôi biết liền họ thuộc type nào, tầng lớp nào v.v…” Đây là cái trí định nghĩa một số giá trị qua cái nhìn bên ngoài và rất quan tâm đến sự khen, chê của người khác. Nó sẽ phiền não khi không có điều kiện trang điểm phía bên ngoài cho bản thân hay người trong gia đình theo đúng ý.
~Định Danh Về Cái Ta (Identity): “Tôi mất việc làm và tất cả tiền bạc. Tôi là con người hoàn toàn thất bại”. Cách suy nghĩ sai lầm trên đây của cái trí làm chúng ta tưởng rằng chúng ta là tác nhân trực tiếp và duy nhất tạo ra mọi hiện tượng và sự vật biểu hiệu của thành công hay thất bại trong đời mình. Điều cực kỳ quan trọng là làm sao để cái trí nhận ra và hiểu rằng chúng ta chỉ tham gia và không hề có khả năng thật sự tạo ra trọn vẹn một kết quả nào cả. Thí dụ, thay vì cái trí thấy rằng “cái cơ nghiệp mà tôi đã tạo ra” hay “cái cơ nghiệp mà tôi đã làm mất (tiêu tan)”, thì cái trí khi nhìn một cơ nghiệp thì chỉ nên thấy đơn thuần là một “cơ nghiệp” mà thôi. Cái trí không nên thấy “mình” là cơ nghiệp, hay cơ nghiệp là “mình”. Cách nhìn đúng đắn nầy sẽ giúp cho chúng ta vượt qua những đau khổ có liên hệ đến thành công hay thất bại, được còn hay mất mát, vinh quang hay nhục nhã… Và cách nhìn nầy cũng có thể giải phóng chúng ta ra khỏi ảo tưởng thường trói chặt ta là: “Tôi luôn luôn là người kiểm soát và làm chủ mọi sự việc trong đời tôi” hoặc “tôi là những gì tôi sở hữu hoặc thành đạt được.”
~Các mối liên hệ và vai trò trong xã hội: “Họ là người thân của tôi ( cha, mẹ, anh, chị, em, bạn bè, chồng, vợ, con, cháu v.v...) mà khi tôi gặp khó khăn, cần được giúp đỡ, họ không giúp đỡ tôi.” Ở đây, cái trí định nghĩa sự liên hệ gia đình dính líu đến một số trách nhiệm nào đó, nếu ai không tuân thủ thì nó phiền não, trách móc.
“Con cái phải vâng lời, hiếu thảo với cha mẹ.”  “Cha mẹ phải thương yêu đồng đều, chăm sóc, lo lắng cho con cái đến nơi, đến chốn.” Đối với cái trí, vai trò của con cái và cha mẹ thương gắn liền với một số trách nhiệm và đòi hỏi. Cái trí phán đoán, trách móc và phê bình nếu những thứ nầy không đáp ứng đầy đủ. Nếu đứa con không gọi điện thoại hay thăm viếng cha mẹ, cha mẹ sẽ buồn phiền. Còn người con thì mặc cảm thiếu bổn phận, tự ghét và trách mình đã không làm tròn bổn phận, không thỏa đáng được những đòi hỏi nầy. Sự đòi hỏi có thể đi đến những thái cực quá đáng mà người ta không hề ý thức. Thí dụ như một trường hợp có thật mà chúng tôi biết được: một bà mẹ buộc con gái mình phải trả hiếu bằng cách bán thân đem tiền về cho bà cờ bạc.
“Công việc của người đàn bà trong gia đình là chăm sóc nhà cửa, chồng, con. Công việc của người đàn ông là cung cấp tài chánh, vật chất, dạy con học.” Một lần nữa, cái trí gắn liền các đòi hỏi với một số vai trò trong xã hội. Cũng như mọi quan niệm khác, nếu vì lý do nào đó mà ai không đáp ứng được trọn vẹn các nhiệm vụ mà cái trí định nghĩa cho một vai trò thì cái trí sẽ khắc khoải, nhắc nhở, than phiền mãi vậy.”
Về mặt cái trí, trục trặc lớn nhất trong cuộc đời nầy thường là sự liên hệ giữa con người với nhau. Ta cần phải nhìn mọi người một cách chính xác. Thí dụ, ta nên nhìn người bạn đời như sau: “Đây là một con người mà trước khi gặp tôi, đã sống mấy chục năm trên trái đất nầy, có riêng đầy đủ những quan niệm không “chính xác”, cơ thể và tinh thần hoàn toàn biệt lập với tôi.” Có khi nào bạn chợt nhận ra là ngoài việc để làm người phối ngẫu của bạn, người ấy còn hiện diện trên đời nầy với những mục đích riêng hay khác không? Cái nhìn nầy sẽ giúp cái trí ta chấp nhận, tôn trọng mọi người chung quanh và không còn có nhu cầu buộc họ phải bỏ cái “không chính xác” của họ để phải tuân theo cái “không chính xác” của mình.
Quá Khứ Và Tương Lai Vô Tận Của Cái Trí
Cái trí thường thường không cần dùng đến việc quán sát để làm vui vì nó luôn luôn có quá khứ và tương lai để bận tâm đến. Nguồn gốc lớn của đau khổ phát xuất từ một cái trí liên tục hồi tưởng và sống trở lại trong quá khứ, không ngừng nghỉ, lo lắng và hoang tưởng về tương lai.. Chúng ta thường hay bị mất cơ hội trải nghiệm ngay hiện tại chỉ vì cái trí cứ lấy sự đau đớn, sự ân hận từ quá khứ để hồi tưởng và sống lại những cảm xúc ấy như một cái máy hát đĩa cũ bị vấp.
Ngoài ra, chúng ta cũng sống một phần của thời tương lai bằng sự lo lắng, sự dự trù toan tính và mơ mộng hoang tưởng quá mức.
Đau khổ đến ngay khi chúng ta lo lắng việc khi nào kết hôn, khi nào có con, bao giờ thì sẽ có một số tiền nào đó v.v. Cái trí cứ lẩn quẩn đeo đuổi những sự kiện hoàn toàn thuộc về một thời khắc khác rồi lôi kéo, thôi thúc ta đem chúng ra sống trong thời điểm hiện tại.
Nói tóm lại, đây là cách mà qua sự vận hành rối loạn, cái trí tạo nên những đau khổ cho chúng ta:
·        Nó bận rộn lặp đi lặp lại những phiền não từ quá khứ.
·        Nó đắm chìm trong lo lắng, sợ hãi, và lẩn quẩn mơ tưởng việc tương lai.
·        Nó khắc khoải, vật vã trong việc ứng dụng một cách cứng nhắc, bất kể lý lẽ, các quan niệm, nhân sinh quan mà xã hội loài người đã đặt ra.
·        Nó tích cực phán đoán, phân tích, nhục mạ, cãi vã, xây dựng các hình ảnh và cảm xúc của bạo động, oán hờn, thù ghét, ganh tị, v.v…
·        Nó cũng là tác nhân mang nhiều bịnh hoạn và đau đớn cho cơ thể vì sự miên man tai hại kia cứ liên tục chuyển sự nhiễu loạn của tư tưởng đến các tế bào.
Khi một người lẩm bẩm nói một mình suốt ngày thì ta cho là bịnh tâm thần. Còn bản thân ta và tất cả mọi người còn lại thì cũng nói suốt ngày đêm, không ngừng nghỉ, khác chăng là ta nói âm thầm trong đầu, không phát thành lời mà thôi. Đây là một căn bịnh trầm kha nhưng vì mọi người ai cũng bị mắc phải bịnh nầy nên tưởng rằng đây là một trạng thái “bình thường”. Điều nầy có nghĩa rằng thay vì ta là người chủ điều khiển cái công cụ “trí” kia thì trong thực tế, cái trí miên man đó đang chủ động và điều khiển ta. Nó thúc đẩy từng ý tưởng, lời nói, việc làm, cảm xúc mà ta tưởng rằng ta làm, ta muốn, ta đau khổ. Ngày nào chúng ta chưa làm được việc TẮT cái trí nầy khi cần tắt, thì chúng ta vẫn chưa thoát khỏi đau khổ.
Mục tiêu ở đây không phải là bỏ quên quá khứ hay là không dự tính tương lai. Cũng không phải là không có ý niệm hay quan điểm. Cái vấn đề đặt ra ở đây là tiến trình (processes) suy nghĩ đưa đến những tình trạng như đã nêu ở trên, nó xảy ra một cách tự động và theo thói quen. Khi chúng ta nói rằng chúng ta muốn vặn tắt cái trí là chúng ta muốn lấy lại sự chủ động đối với tiến trình đó. Chúng ta muốn vặn tắt cái công tắc tự động. Nghĩa là mục tiêu của chúng ta là phải có khả năng chọn lựa và áp dụng – chúng ta sẽ chọn lựa khi nào nên áp dụng một quan niệm hay một định kiến, khi nào nên hồi tưởng việc quá khứ hoặc lúc nào nên dùng những hình ảnh, những cảm xúc sẵn có bên trong.
Cái trí không phải là một tai họa cho nhân loại. Ngược lại – nó sẽ trở nên một bộ máy rất quý báu nếu mình biết cách dùng nó. Chúng ta cần lấy lại sự chủ động đối với cái trí và tự giải phóng mình ra khỏi những thói quen tai hại của nó, hầu tìm được hạnh phúc lâu dài. Một khi chúng ta đã trở thành chủ nhân của cái trí mình, chúng ta có thể vun bồi cho nó những tính chất hay ho như sự sáng tạo và sự tỉnh giác (awareness). Một khi chúng ta hiểu được tiến trình lý luận và diễn giải của cái trí, chúng ta có thể dùng cái trí như là một công cụ để vun trồng và nâng cao tâm thức cho mình và cho người khác.
Muốn vượt ra khỏi đau khổ cần phải có ba việc: Hiểu biết về cái trí và những thói quen của nó,  một phương pháp để an hòa nó, và quan trọng nhất là sự thức giác về bản thân cũng như về sự liên hệ giữa ta và mọi người.
Chương nầy chúng tôi đã giới thiệu về tiến trình của cái trí, chương kế tiếp sẽ giới thiệu về một phương cách dùng để tu dưỡng cái thức giác cần thiết nói trên. Phương pháp nầy tuy chỉ là một trong những vô số phương pháp thiền đang được phát triển hiện nay. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng đây là một phương pháp đơn giản, dễ dàng và rất ứng nghiệm để đạt tới sự Tĩnh Lặng và thức giác cần thiết. Chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ rất hữu ích cho những ai còn chưa tìm được một phương tiện thích hợp cho việc tìm kiếm một hạnh phúc lâu bền.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More