'Nếu bạn có thể học lái xe được thì bạn cũng có thể học để hạnh phúc được,' Matthieu Ricard, người được các nhà khoa học cho là hạnh phúc nhất trên trái đất.

‘Mọi thứ đều thuộc về chính chúng, chẳng thuộc về ai cả,’ Osho, Ngón tay Chỉ trăng

Tình yêu không phải là đối nghịch của thù hận. Tình yêu là cái toàn thể, và do vậy, nó không có cái đối nghịch!

‘Cuộc sống không chấp nhận đòi hỏi của bất kỳ ai về nó và cứ tiếp tục trôi đi mỗi khoảnh khắc’ Osho, Ngón tay Chỉ trăng

'Bản chất của bạn là hạnh phúc. Ham muốn điều đó chẳng có gì là sai. Sai lầm là ở chỗ đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài trong khi nó ở bên trong,' Ramana Maharshi — 'Happiness is your nature. It is not wrong to desire it. What is wrong is seeking it outside when it is inside.' Ramana Maharshi —

'Không có hạnh phúc nào bằng sự an tĩnh trong tâm hồn! —

Showing posts with label Tình cảm. Show all posts
Showing posts with label Tình cảm. Show all posts

Saturday, May 31, 2014

Bốn người bạn: Từ, Bi, Hỉ, và Xả , Ayya Khema

Một người không có gì ngoaì tình cảm thương yêu sẽ luôn cảm thấy an ổn, hoàn toàn tự tin vì người đó biết rằng không có gì có thể lay chuyển được tình cảm của họ.

Trong mỗi chúng ta có bốn người bạn tốt (tứ vô lượng tâm), sẵn sàng giúp đỡ ta. Tuy nhiên cạnh đó ta cũng có năm kẻ thù chực chờ nhảy ra tấn công bất cứ lúc nào. Chúng không bao giờ để ta yên. Nhưng vấn đề là có mấy ai trong chúng ta đủ sức mạnh để đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ cho những người bạn tốt của mình. Lại có người còn không biết rằng đó là việc tốt, nên làm.
Bốn người bạn đó là bốn tánh tốt của ta: Từ, Bi, Hỉ, và Xả. Ta phải tìm kiếm chúng trong trái tim mình. Nếu không thể tìm ra, và tự biết đó là một thiếu sót của mình, ta phải bắt đầu lo tạo ra chúng, phát triển chúng.

1. Từ
Ngôn từ thật nguy hiểm. Chúng tạo cho chúng ta một cảm giác của sự trường tồn, bất biến. Chúng ta bị phủ lấp bởi ngôn từ, nhưng chúng chẳng khác gì hơn là những khái niệm. Chúng không có thật. Hãy tưởng tượng ra một dòng sông: danh từ "dòng sông" không phải là thực thể của một dòng nước chảy. Từ "dòng sông" cố định: nhưng bản thể của dòng sông thì lưu chuyển.
Từ tâm chỉ có thể xuất phát từ trái tim. Lòng từ sẽ trở nên trống rỗng, vô nghĩa, nếu nó chỉ nằm trong ngôn từ. Tự nó không có nghĩa gì, giống như từ "dòng sông" chỉ gợi cho ta một cái gì đó, khi ta đã kinh nghiệm qua. Nếu ta bảo với một đứa trẻ thơ về "dòng sông", nó không biết ta nói gì. Nhưng nếu bạn bỏ tay em xuống nước, để em cảm nhận dòng nước chảy, thì em sẽ thật sự biết dòng sông là như thế nào, không kể em có biết đến danh từ "dòng sông" hay không.
Ðối với Lòng Từ cũng thế. Danh từ ấy không có nghĩa gì. Chỉ khi nào bạn cảm được nó từ trong tim mình, thì bạn mới hiểu những điều Phật đã nói về lòng Từ trong các bài thuyết pháp của mình. Cuộc đời sẽ thiếu sót biết bao khi không chứa đựng cả lý trí và tấm lòng. Nếu chỉ sống bằng traí tim, con người dễ trở thành tình cả, một bản tính thường được đồng hóa với người phụ nữ. Tình cảm có nghĩa là ta phản ứng với mọi thứ, điều đó không tốt. Lý trí cũng có chỗ đứng của nó. Con người cũng cần hiểu những gì xảy ra quanh họ. Nhưng nếu chỉ hiểu với cái đầu, nó có thể vượt bực về kiến thức, nhưng con tim sẽ thiếu đồng cảm. Tình và lý phải luôn đi đôi với nhau. Ta phải hiểu bằng lý trí và phải dùng tình cảm một cách khôn ngoan, tình cảm tràn đầy, mang đến sự an lạc và hoà đồng của trái tim.
Lòng Từ hay tình thương, không phải là tình cảm tạo nên bởi sự có mặt của một người dễ thương, hay vì ta đang sống bên cạnh những người thân của mình, hay một người đáng yêu. Uy quyền hay những phản ứng bản năng cũng không liên quan gì đến loại tình thương nầy. Yêu thương con cháu của mình, yêu thương cha mẹ mình không khó khăn gì. Phần đông chúng ta đều làm được, trừ một số ít. Nhưng tình thương đó không phải là lòng Từ (metta).
Khi Phật nói về lòng Từ, Ngài muốn nói đến thứ tình cảm không có sự phân biệt trong trái tim ta. Tình cảm cao thượng đó đòi hỏi chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người như thể người mẹ yêu thương đứa con duy nhất của mình. Tất cả những ai có con sẽ biết được sự khác biệt khi họ yêu thương con mình và người khác. Nhưng đó chính là điều ta phải sửa đổi. Nếu không, ta khó thể hiểu về lòng Từ và sự quan trọng của nó.
Nếu bạn thấy một em bé bị té xe, ngồi khóc, tự nhiên là ta sẽ đỡ em dậy, dỗ em. Lòng Từ đó cũng không khó thực hiện. Khó là sự thể hiện lòng từ trong tâm ta với tất cả mọi người, kể cả những kẻ đáng ghét nhất. Không phải tất cả chúng ta đều dễ thương, trừ bậc A la hán. Ngay chính ta cũng không hoàn toàn dễ thương, thì sao lại mong mỏi điều đó ở người khác. Tại sao ta phải phân biệt giữa người ta có cảm tình và người ta không ưa. Chúng ta tự cho mình có lý khi không ưa những người mà theo sự đánh giá của chúng ta, họ đã hành động sai quấy. Nhưng ngay chính ta, đâu phải lúc nào ta cũng hành động đúng. Suy cho cùng trong chúng ta có ai không từng làm những chuyện đáng hối tiếc. Tôi không biết về bạn, nhưng chỉ cần soi lại chính mình, tôi cũng hiểu bạn thế nào. Ai cũng lầm lỗi, thì tại sao lại đòi hỏi người khác phải hoàn toàn, muốn người khác làm chuyện ta không thể làm được.
Có ba loại lòng Từ. Thứ nhất là lòng tốt (good will). Chúng ta phải có lòng tốt đối với nhau. Ðó là điều kiện tiên quyết để sống với nhau. Nếu chúng ta không tốt với nhau, ta không thể cùng ngồi thiền với nhau. Ta sẽ đứng dậy, đi lung tung. Sẽ làm ồn ào khi mọi người quanh ta cần yên tĩnh. Sẽ không có xứ sở nào tồn tại, nếu người ta không có lòng tốt với nhau. Bạn có nhận thấy chúng ta lệ thuộc vào nhau rất nhiều không? Chúng ta cậy vào người phát thư để có thông tin, nhờ người bán rau cải, nhờ nhà nông để có lương thực. Chúng ta lệ thuộc vào lòng tử tế của các nhà hàng xóm. Vì lòng tử tế là điều kiện tối cần cho cuộc sống, chúng ta không thể thiếu nó, không có nó cuộc sống sẽ đảo lộn.
Thứ hai là tình bằng hữu. Ta cảm thấy gần gũi, thân thiện với một số người như bạn bè, hàng xóm, người quen biết, người giúp đỡ chúng ta. Sự thân thiện là một bước đến gần hơn với lòng Từ, nhưng chưa phải là lòng Từ thật sự. Nó làm chúng ta thấy gần gũi với người khác, cũng như đem người khác lại gần chúng ta, nhưng nó cũng có khía cạnh nguy hiểm của nó. Ðó là lòng ưa thích. Thường ta nghĩ chẳng có gì xấu trong đó, nhưng trong sự ưa thích, đã có sự bám víu. Bám víu vào bạn bè ta, người quen, kẻ ban ơn cho ta, người thân chung quanh ta. Sự bám víu đó sẽ khiến ta đau khổ, sân hận, không phải đối với người thân của ta, nhưng đối với cái ý tưởng là ta sẽ phải mất họ. Sẽ sinh ra lòng sợ hãi, vì ta chỉ có thể sợ hãi những gì ta không ưa thích. Do đó tình thương thuần khiết không còn nữa. Vì chính sự bám víu đã làm hoen ố nó, làm cho nó không còn hoàn bích. Không bao giờ ta có thể tìm được an vui với thứ tình cảm đó. Ðiều đó thường xảy ra trong các gia đình. Ðó là lý do tại sao con người không thể tìm được hạnh phúc trong loại tình thương đó.
Tuy nhiên tình thương chúng ta dành cho người thân trong gia đình mình có thể dùng làm hạt giống để vun trồng lòng Từ. Rồi từ đó ta phát triển, nhân rộng nó lên. Chỉ có như thế tình cảm gia đình mới có ý nghĩa. Nếu không, nó trở thành nơi ươm mầm của tình cảm sân hận - như vẫn thường thấy trong các gia đình - như nước sôi trong chiếc ấm đậy nắp. Tình cảm gia đình cần được vun trồng trong tim ta vô điều kiện, không cứ phải là chồng tôi, vợ tôi, con gái tôi, con trai tôi, cậu tôi, mợ tôi. Ðầy tính cách sở hữu của cái tôi. Nếu như chúng ta không thể vượt lên và chuyển đổi những tình cảm đó thành vô điều kiện, thì tình cảm gia đình đã không được sử dụng đúng chức năng của nó. Trong trường hợp đó, nó được dùng để củng cố cái tôi, để đảm bảo cho sự sinh tồn. Nhưng sinh tồn không phải là một vấn đề, ta không nên phí thì giờ lo chuyện đó. Dù có bom nguyên tử hay không, chúng ta cũng không thể tồn tại mãi được, có phải không? Chỉ có một nơi chốn cho tất cả chúng ta, nơi mọi người cuối cùng rồi sẽ hội ngộ.
Tình bằng hữu cũng đưa đến sự bám víu. Chúng ra bám víu vào bạn bè. Sợ mất họ, ta tốt với bạn bè vì muốn họ mãi là bạn mình. Nhưng nếu họ đối xử trả lại không được tốt, ta lập tức nghĩ xem có nên tiếp tục làm bạn với họ không. Ta đòi hỏi ở họ một sự thân thiết, lo lắng, quan tâm trả lại. Giống như kinh doanh thương mại. Một sự trao đổi sòng phẳng. Ðó là điều hầu như tất cả chúng ta đều làm, đến nỗi ta chẳng bao giờ để ý đến. Ðối với bạn bè thì thế, đối với gia đình, chúng ta còn đòi hỏi hơn thế nữa. Nếu người thân ta không thương trả lại, ta hờn tủi, thất vọng, trầm uất. Nếu họ bỏ rơi ta, tình thương trong ta cạn kiệt. Thật là kỳ lạ, khi tình thương chỉ giới hạn trong một nhóm người.
Tình thương không thể ẩn tiềm trong con người. Con người chỉ là một đãi xương bao bọc bởi da. Làm sao có thể tìm thấy tình thương trong đó. Nhưng đó là bi kịch của bao người. Romeo và Juliet, Cuốn theo chiều gió... là những bi kịch sân khấu về người này ra đi vì người kia không yêu mình, hay chia tay nhau bằng cái chết. Con người trước sau gì cũng phải xa nhau, qua cái chết hay qua sự thay đổi tình cảm, tư tưởng. Họ cần chi phải hành động như thế. Làm sao tình yêu có thể ẩn tiềm trong những người như thế?
Tình thương tiềm ẩn trong cảm xúc. Nếu ta không sử dụng tình cảm gia đình làm nẩy nở thêm cảm xúc này, ta sẽ bị mất thăng bằng khi người ta thương yêu, bám víu vào biến mất đi vì lý do nào đó. Mục đích chính của tình cảm gia đình là để giúp ta biết thế nào là cảm xúc thương yêu, và từ đó nhân rộng ra.
Phát triển tâm Từ không phải bằng cách dự một lớp 10 ngày về thiền hay nghe thuyết pháp về lòng Từ. Chúng ta không thể mở tắt tình cảm, lý trí của mình như một tắt mở bóng đèn. Ta cần luyện tập có phương pháp một cách kiên nhẫn và với lòng quyết tâm.
Trái tim ta cần được rèn luyện để yêu thương vì nó không phải được tạo ra để lúc nào cũng tràn đầy lòng thương yêu. Nó có thể yêu mà cũng có thể ghét. Nó cũng chứa đầy ý xấu, sân si, sợ hãi cũng như tình thương. Nhưng nếu như ta không làm giảm bớt sự hận thù và phát triển thêm tình thương bằng cách thay đổi cách cư xử của ta trong đời sống hằng ngày, tâm ta sẽ không thể an lạc, sự an lạc mà Từ tâm có thể mang đến cho ta.
Khi trong ta đầy tình thương - loại tình thương không có điều kiện đối với tha nhân - thì ta tràn đầy an lạc. Khi ta có thể làm chủ được các hành động của mình. Trở nên tự tin. Không sợ hãi điều gì. Ta tự biết mình đã được rèn luyện đến độ sẽ không thể có một phản ứng giận dữ, ghen ghét, dù nhỏ đến đâu có thể xảy ra để làm ta mất đi sự bình yên. Ðó là kết quả đầu tiên và hoàn thiện nhất mà ta có thể có được do đã ươm trồng lòng Từ trong tim ta.
Quan trọng hơn cả là tình thương đó đã được vun trồng dành cho những kẻ không "đáng thương" chút nào. Ðó chính là cơ hội thực tập để thay đổi con tim và lý trí của mình. Chúng ta ai không từng biết một đôi người "khó thương" nhưng hãy coi họ là người giúp ta tự rèn luyện tâm. Sau khi chuyện đã rồi, nhìn lại cũng là dễ chấp nhận, nhưng ngay lúc ta phải đối mặt với người đó thì tất cả những tình cảm tiêu cực ấy lên trong ta: ghét, giận, biện hộ cho thái độ giận ghét của mình v.v... đó đúng là lúc ta cần sử dụng tình thương của mình. Ðúng khi ta đang sân si.
Ðừng bỏ lỡ những cơ hội đó. Hãy mang tình thương đến với mọi người, dù là người ta ghét hay ta thương. Mỗi người ta tiếp xúc đều mang đến cho ta những cơ hội để học tập, thực hành lòng Từ, bất kể người đó là ai. Không kể họ nói gì, không cần họ có quan tâm đến bạn hay không, hay chính họ có lòng từ hay không. Không có gì đáng kể, cái đáng kể là những gì đang xảy ra trong lòng bạn, và đó là điều duy nhất bạn cần nói tới. "Nếu trong lòng tôi chỉ có tình thương, lòng thương xót, chấp nhận, nếu tôi có thể dẹp bỏ sân si trong lòng, thì tôi đã đi được những bước chân đến gần hơn với đạo pháp". Giáo lý Đức Phật dạy cần phải được hiểu thấu đáo, rồi đem áp dụng, thể hiện chúng trong cuộc sống của chúng ta.
Ai cũng có cơ hội để sửa đổi các cách ứng xử của mình với người khác. Chúng ta luôn tiếp xúc trao đổi với người khác, và lúc nào cũng sẽ có người không đồng ý với chúng ta. Khi đó nếu chúng ta làm thinh, không thèm trả lời thì đó không phải là phản ứng của lòng Từ. Trái lại, nó chỉ đem lại sân hận, bất mãn, lo âu, rồi dẫn đến bất cần, lạnh nhạt. Tất cả những thứ đó không ích lợi gì, và cũng chẳng giúp chúng ta thanh tịnh được. Chỉ khi nào ta có thể hành xử với trái tim đầy tình thương, ta mới tìm thấy được sự an lạc, bình an với chính mình.
Phật đã nói về 11 điều lợi ích của lòng Từ. Ba điều đầu tiên là: "ngủ ngon, không ác mộng, và tỉnh giấc sảng khoái". Nếu ai bị mất ngủ, bạn có thể đoán rằng là ít nhiều họ đã thiếu lòng Từ và thuốc ngủ khó thể chữa được bệnh cho họ. Nhưng lòng Từ có thể giúp họ dễ ngủ. Và vì tiềm thức không có gì bứt rứt, nên không có ác mộng, không ác mộng thì thức dậy cũng sảng khoái như khi họ lên giường ngủ, đó chính là nhờ họ có lòng Từ, tính nhân ái đối với tất cả mọi người.
Một cách ứng dụng là trước khi đi ngủ, chúng ta hãy thử làm một bảng cân đối (balance sheet) bằng ý nghĩ hay viết xuống trên giấy. Chia tờ giấy làm hai cột: hôm nay tôi đối xử tử tế với người khác được bao nhiêu lần? Cột bên kia ghi: bao nhiêu lần tôi cảm thấy giận dữ, đau đớn, sợ hãi, bứt rứt khi đối đầu với người khác? Rồi cộng lại hai cột. Nếu cột tiêu cực nhiều hơn tích cực, thì ta cần phải tu sửa. Giống như người bán hàng kiểm tra hàng hóa của mình, những món hàng không ai mua, tất nhiên phải đem trả lại.
Ðó là phương cách tập luyện. Không có gì là bẩm sinh, dù tánh xấu hay tánh tốt. Ta phải luôn luôn huân tập sửa đổi bản thân cho đến khi tất cả những ô uế ở thân tâm đều được tẩy sạch. Nhưng không phải vì nhờ ai cũng tốt. Không. Nếu ai cũng tốt, mọi người đều đang ở cõi trời hết cả rồi. Ðâu phải có mặt ở đây làm gì. Ðây là cõi thứ năm tính từ dưới lên trong 31 cõi. Thử nghĩ xem chúng ta đang ở cõi thứ 5 trong 31 cõi, cũng khó thể mong đợi gì hơn ở con người trong cõi ấy?
Chúng ta có rất nhiều điều phải học trong cõi này, và có lẽ mục đích của cõi này chính là thế, để con người có cơ hội rèn luyện mình thêm. Không phải để chúng ta tìm kiếm sự thoải mái, tiền bạc, của cải, sở hữu. Cuộc đời chính là một trường học. Ðây là bài học quan trọng nhất, bài học để giúp trái tim ta thêm bao la. Không thể có bài học nào quan trọng hơn. Giống như trong một khu vườn, khi cỏ dại mọc quanh một khóm hoa hồng, thì bao nhiêu phân bón cho hoa hồng đều vô ích, hồng sẽ không thể ra hoa, con người sẽ chẳng được ngửi mùi hương của hoa. Dần dần cỏ dại sẽ phủ trùm lên hoa. Trái tim ta cũng thế. Khóm hoa hồng là lòng Từ đang được ươm trồng. Nếu chúng ta không nhổ cỏ dại để cây được ra hoa, tỏa hương thì dần dần cây hoa Từ cũng tàn lụi. Cỏ dại chính là lòng sân si của chúng ta.
Phần đông chúng ta đều đi tìm người yêu thương mình. Cũng có người tìm được một đôi kẻ yêu thương họ và họ có thể thương trả lại. Nhưng có biết bao kẻ xấu số khác không thể tìm được ai. Họ trở nên cay đắng hờn tủi. Trong khi mọi việc đáng lý phải làm ngược lại. Vì nếu chúng ta là người đầy lòng thương đối với mọi người thì sẽ có bao nhiêu người đến với chúng ta, vì có ai mà không muốn được yêu thương. Ðược người khác thương yêu không có nghĩa là ta cũng đầy tình thương. Chính kẻ yêu ta mới có tình cảm yêu thương. Trong khi có thể ta chẳng có cảm giác gì cả, ngoài lòng thỏa mãn là đã có người thấy ta dễ thương. Ðiều đó chỉ làm cái tôi của chúng ta thêm lớn. Trong khi yêu thương người khác thì cái tôi của ta nhỏ bé lại.
Tình thương của ta càng bao la, ta càng có thể yêu thương nhiều người, cũng như được nhiều người yêu thương lại. Càng cho bao nhiêu, thì ta lại càng được bấy nhiêu. Ðó là phép tính cân đối đơn giản nhưng ít có ai thấy ra điều đó. Ai cũng đi kiếm thêm người yêu mình, nhưng không muốn ban phát tình thương cho ai cả. Ðiều đó thật không tưởng, thật nghịch lý. Nhưng trong đời sống của ta có biết bao điều nghịch lý.
Ðây cũng là điều Đức Phật đã nói trong 11 điều lợi ích: "Ta được con người và muôn loài yêu thương". Nếu ta ban phát tình thương đến cho người khác, thì tự họ sẽ tìm đến với ta. Không thiếu người yêu thương ta. Ta ban phát cho người khác tình thương, không phải vì ta muốn cho, không phải vì họ cần, không phải vì họ đáng để cho, nhưng vì trái tim ta đã được rèn luyện để làm như thế. Giống như người ta được rèn luyện về toán. Khi những con số được đưa cho họ, họ sẽ tổng cộng chúng lại nếu họ muốn biết tổng số. Không có cách gì khác hơn. Cũng thế, nếu trái tim ta đã được rèn luyện để yêu thương thì nó sẽ yêu thương vô điều kiện.

Chắc sẽ có người lên tiếng phản đối rằng: "Nếu người khác cộc cằn thô lỗ với mình, mà mình đối xử với họ đầy tình thương, họ sẽ lợi dụng ta sao?". Nếu người khác có làm như thế, điều đó có thể xảy ra lắm vì bản tính người đời là thế. Nhưng đó là nghiệp ác của họ có phải không? Trong khi người tử tế không có gì mất cả. Làm sao bạn có thể mất được tình thương vẫn đầy ắp trong tim mình? Nếu có bị lợi dụng, thì đó cũng là cơ hội để ta thử kiểm chứng lại trái tim mình xem nó đã được tôi luyện đến mực nào, xem chính mình có trở nên hờn giận hay vẫn có thể tiếp tục đối xử tốt với kẻ xấu đó. Là dịp để ta xét soi mình có hành động đúng không? Trong tình thương có cả sự quan tâm đến người khác. Do đó một kẻ lợi dụng không thể có tình thương. Không nên sợ tình thương làm mình có vẻ yếu đuối,vì tình thương yêu thật sự chỉ làm con người trở nên mạnh mẽ hơn, không phải yếu đuối. Một người không có gì ngoaì tình cảm thương yêu sẽ luôn cảm thấy an ổn, hoàn toàn tự tin vì người đó biết rằng không có gì có thể lay chuyển được tình cảm của họ. Tình thương vô điều kiện tăng thêm sức mạnh cho con người, không phải sự yếu đuối. Nhưng nếu tình thương đi đôi với đam mê như người ta vẫn thường mê lầm, thì tình thương lúc đó sẽ làm con người yếu đuối vì họ trở nên bám víu, ích kỷ. Trong khi nếu tình thương đến từ trái tim thì tình cảm đó bền vững hơn đá.
Một điều lợi ích khác của lòng Từ là nó giúp ta dễ nhiếp tâm. Ðó là lý do tại sao ta nên bắt đầu một buổi ngồi thiền với những ý tưởng tốt đẹp về chính mình. Tâm không thể trụ nếu không có ba điều căn bản: sự rộng lượng, đạo đức và lòng từ. Ðó là ba cột trụ của thiền, giúp ta thực tập thiền. Lòng từ phát xuất từ trái tim, không thể thiếu khi ta ngồi thiền vì tình cảm ấy đem lại cho ta sự bình an, tĩnh lặng trong tâm. Nếu thiếu điều đó ta cần thực tập chú tâm vào từ tâm trước mỗi buổi ngồi thiền để phát triển lòng từ trong ta.
Ta không thể thương yêu người khác nếu trước tiên ta không biết yêu thương chính mình. Nhưng không phải bằng cách phụng sự nó. Tìm đủ cách để cho nó được êm ấm, thoải mái không được có một con muỗi ở bên cạnh, đầy đủ thức ăn mà ta ưa thích. Ðó không phải là thương yêu mà là phục dịch. Giống như tình thương của người mẹ dành cho con của mình phải sáng suốt. Nếu người mẹ chỉ biết cưng chiều đứa trẻ, thì nó và cả mẹ nó, sẽ phải trả giá cho sự cưng chiều đó. Nhưng nếu người mẹ yêu thương con thực sự, bà sẽ không nuông chiều nó thái quá. Bà sẽ dạy con với lòng thương và trí sáng suốt, uốn nắn tánh tính nó. Ðó chính là điều ta phải làm đối với bản thân ta. Vì thương chính mình, ta phải bắt mình tuân theo một số điều lệ hành động. Thực tập thiền là một cách thương yêu mình.


Sự chú tâm ta có thể đạt được trong lúc toạ thiền tùy thuộc vào lòng từ trong tim ta. Ðồng thời cũng tùy thuộc vào sự thực tập. Nếu thiếu thực tập, lòng từ khó thể giúp cho sự chú tâm đến với chúng ta.
"Da dẻ hồng hào" có nghĩa là trên gương mặt ta biểu lộ sự an bình. Không có thứ thuốc sửa sắc đẹp nào có thể sánh kịp. Ðó là nét đẹp từ bên trong. Người trẻ tuổi có thể chỉ có cái đẹp bề ngoài, nhưng trống rỗng bên trong. Nếu quan sát, người ta cũng dễ dàng nhận được vẻ đẹp toát ra bên trong. Phật thường được tả như thế. Có người chỉ cần nhìn thấy Phật một lần, đi trên đường là đã phát sinh lòng yêu kính Ngài, muốn được theo Ngài để trở thành đệ tử của Ngài. Có lần Rahula, con trai của Ngài tỏ ra hãnh diện vì được giống Ngài. Phật liền quở dạy: "Phải coi tất cả hình tướng bề ngoài như thế này. Ðây không phải là của tôi, không phải là tôi, tất cả chỉ là giả tưởng".
Một điều lợi ích nữa của từ tâm là "Lửa thuốc độc làn tên không thể hại tới ta". Ngày nay người ta không dùng tên nữa, mà dùng súng đạn, dùi cui, còn lửa và thuốc độc muôn thưở vẫn là những thứ dùng để tấn công. Nói thế không có nghĩa là ta trở nên bất khả xâm phạm nhưng những người đầy từ tâm hiếm khi rơi vào những hoàn cảnh đó. Và dù có lâm vào những hoàn cảnh như thế, lòng họ cũng không hề bị xao xuyến. Của cải họ có thể bị hao hụt, nhưng trái tim của họ thì không. Trái tim không thể bị khuất phục khi trái tim chỉ có tình thương, không còn lòng hờn ghét.
"Ta sẽ được chết bình an". Tất cả chúng ta ai rồi cũng chết. Giờ phút lìa khỏi đời rất quan trọng, vì đó chính là giây phút của tái sinh, đúng ra đó là ngày sinh nhật. Nhưng ta thường nói về cái chết với sự đau buồn mất mát. Thực ra nếu ta có thể đón chờ cái chết với tỉnh thức, với từ tâm thì đó chính là ngày sinh tốt đẹp của ta. Tất cả đều không khác, trừ khi bạn là một A la hán. Thói quen suy tưởng, xúc cảm hằng ngày sẽ theo ta đến tận cuối đời, giây phút lâm chung. Các thói quen đó không thể thay đổi đột ngột. Vì thế nếu các thói quen đó xuất phát từ lòng từ thì ta sẽ rất tỉnh thức, không thấy sợ hãi, lòng đầy bình an, và vững niềm tin. Giây phút lià đời phải là giây phút tốt đẹp vì đó là bước khởi đầu của sự tái sinh.
Lòng từ nuôi dưỡng trong tâm sẽ đem lại lợi ích cho chính chúng ta. Ai đó đã nói rất đúng. Từ tâm chính là lòng thương yêu chính mình. Ðúng thế, nhưng tình thương này không phải là tình thương tầm thường ích kỷ, mà nó là bàn đạp để đưa chúng ta đến cái đích cuối cùng: Vô Ngã. Thật thế khi trái tim ta càng có nhiều lòng từ, ta càng như thể không còn nghĩ đến chính bản thân mình, đến cái tôi của mình. Và khi cái tôi trở nên nhỏ bé hơn thì tình thương yêu càng dễ phát triển hơn. Khi ta nghĩ đến người khác nhiều hơn, thì Ngã phải nhường chỗ cho họ trong trái tim. Dĩ nhiên họ là người được lợi nhưng đó chỉ là thứ yếu. Chỉ có ta mới có thể tự giải thoát cho chính mình. Ai cũng phải ra đi một mình. Nhưng nếu có những người bạn đồng hành cùng muốn đi theo con đường của ta, thì ta cũng mở rộng vòng tay đón mời họ, vì con đường, chuyến xe này hãy còn vắng vẻ làm sao.
 

2. Bi
Người bạn thứ hai là Bi. Ðối nghịch với Bi là sự ác độc. Ðừng lầm Bi với lòng thương hại. Lòng thương hại dấy khởi khi ta cảm thấy tội nghiệp cho ai đó. Bi là khi chúng ta chia sẻ lòng xót thương với họ. Bi là cùng cảm thông với một người khác.
Bi phát sinh khi ta cảm nhận được sự đau khổ, không như ý của người khác trong chính bản thân ta. Chỉ có như thế ta mới thực sự cảm thông được với người khác. Nếu không, ta sẽ tiếp tục sống với ảo tưởng là đối với ta, mọi việc đều bình thường, chỉ có người khác là có vấn đề là đau khổ. Nếu ta có thể nhận diện được tất cả những trạng thái bất như ý, dồn dập xảy ra trong ta, sự không ưa thích và chán ghét, hối hận và hờn trách, sợ hãi và lo lắng, căng thẳng, thì ta hiểu rằng tất cả chúng ta đều cùng một số phận. Ðể khi người khác gặp chuyện khó khăn, ta có thể thông cảm với họ, vì ta biết rằng chính mình cũng có khổ đau.
Sự cảm thông (Bi) là bước đầu dẫn đến tình thương. Nếu ta có thể thực sự dấy lên tong lòng một cảm xúc chân thành cho ai đó, cảm thông sâu sắc nỗi khó khăn của họ, những gì họ phải hứng chịu, thì sự thương cảm đối với họ cũng tự nhiên đến trong lòng ta.
Tuy nhiên ta không nên có sự phân biệt giữa người này, kẻ kia theo thói thường tình. Thường chúngta dễ cảm thông với những người có liên hệ gì đó với ta. Như người đồng tôn giáo cùng nhóm bạn, đồng quê hương láng giềng hay gì gì đó mà ta cũng quan tâm đến. Một cái gì đó để ta có thể nói "của tôi" thì ta chọn lựa cái đó. Sự lựa chọn này đẩy con người ra xa nhau, và dầu họ đi đến đâu tên thế giới này tinh thần chia rẽ đi theo đến đó. Làm con người sâu xé nhau.
Sự chia rẽ này do quan niệm chấp "Ngã" mà ra. Ðây là cái tôi, tôi phải bảo vệ cái tôi của mình. Cái tôi bị đe doạ, cái tôi thường xuyên cảm thấy đe doạ, đến nỗi tôi cũng không biết rõ về mình, không thực sự biết "cái tôi" này là gì. Tất cả cái ta biết là sự đe doạ đến cái tôi làm tôi sợ hãi. Nơi nào có sự sợ hãi, nơi đó không có cảm thông (Bi) vì sợ hãi xuất phát từ sân hận. Chúng ta chỉ sợ những gì ta ghét. Những gì ta ưa thích, ta không sợ. Trái tim nào càng có nhiều sự sợ hãi, trái tim đó càng ít có sự đồng cảm (Bi). Sợ hãi luôn núp dưới bóng của ngã. Một vị A lán hán hoàn toàn không có sự sợ hãi. Không có sự sợ hãi ở người đã giác ngộ. Không có sự sợ hãi, vì không có gì để được hay mất. Tất cả đều trở thành tầm thường không đáng kể. Càng nhiềuu ngã chấp, sự sợ hãi càng tăng. Sợ bóng tối, sợ trộm cướp, sợ thời tiết xấu, sợ tương lai, đủ thứ sợ. Sự sợ hãi xuất phát từ lòng muốn bảo vệ cái tôi giả tạo. Và càng muốn bảo vệ cái tôi bao nhiêu, lòng cảm thông (Bi) càng bị giới hạn.
Tuy nhiên sự cảm thông dễ trở thành những điều nói ở đầu môi. Ta có thể không thật. Phần lớn chúng ta đều rất giỏi "đóng kịch". Một lần Pessa, con của người dạy voi, đến gặp Phật và nói với Ngài; "Con chẳng gặp khó khăn gì với lũ voi. Hình như chúng nghĩ sao, làm vậy. Khi chúng có một ý định gì đó, con hiểu ngay, và chúng làm đúng theo ý định đó. Nhưng sao con người khó hiểu quá. Họ nói một đường và làm một nẻo". Phật nói: "Ðúng vậy, voi sống trong rừng cây, còn con người thì sống trong rừng tâm tưởng". Con người nói một điều, nhưng ý nghĩ hành động lại khác. Tệ hại hơn nữa là ta không hề ý thức chuyện đó là không tốt. Ta tưởng đó là việc phải làm. Là luật ứng xử, phong tục, truyền thống nên chúng ta không xét lại kỹ lưỡng ý tứ, lời nói và hành động của mình.
Chỉ nghĩ nào ta soi lại mình một cách thấu đáo, với lòng thiết tha thành khẩn, ta mới có thể thật sự hiểu được những điều Phật dạy. Phật đã giảng nghĩa rõ ràng về bản tánh của chúng ta. Ngoài mặt, tất cả chúng ta đều như khác nhau nhưng bên tong tất cả đều giống nhau. Chúng ta giống như từ một khuôn ra, chạy đuổi theo cùng thứ, đi theo cùng con đường. Sự khác nhau chúng ta thấy chỉ là giả tạo. Tuỳ thuộc vào cái nhìn của bản Ngã.
Tất cả những người có ý thức đều than phiền về chiến tranh giữa các quốc gia. Ai cũng muốn nhìn thấy thế giới được hoà bình. Dĩ nhiên là điều đó không thể có. Ở thế kỷ này hình như lúc nào cũng có chiến tranh ở nơi này nơi khác. Các xứ sở đua nhau thành lập những hàng phòng thủ kiên cố, đổ vào đó bao nhiêu là năng lực, tiền bạc, và con người. Chính các hệ thống phòng thủ này biến thành hệ thống tấn công ngay lập tức nếu như có ai tuyên bố lời nào không thân thiện hay hơi có vẻ đụng chạm đến không phận hay hải phận của họ. Hành động này được giải thích biện hộ bằng "chúng ta phải bảo vệ biên giới của mình để bảo vệ dân cư ở đó". Việc bãi bỏ vũ khí chỉ là ước vọng, một lời cầu nguyện, không phải là thực tế. Tại vì sao? Vì việc bãi bỏ vũ khí phải bắt đầu từ trái tim của mọi người, nếu không việc bãi bỏ vũ khí đại trà sẽ không thể nào xảy ra.
Việc phòng thủ và tấn công nói rộng ra luôn xảy ra trong chính mỗi chúng ta. Chúng ta không ngừng bảo vệ cái tôi của mình. nếu ai đó nhìn chúng ta một cách không thân thiện, hoặc tỏ ra không biết ơn, không thương yêu ta giống như ta mong muốn, hay trách cứ chúng ta điều gì thì sự phòng thủ đó biến thành sự tấn công. Lý luận rằng ta phải bảo vệ người này "xứ sở" nọ, là bảo vệ "cái tôi" để bảo vệ dân cư là bảo vệ cái ngã của mình. Vì hầu hết mọi người đều hành động như thế, nên các quốc gia cũng làm như thế. Không thể hy vọng có sự thay đổi xảy ra trừ khi mỗi cá nhân biết tự sửa đổi. Do đó, mỗi người chúng ta phải tự phấn đấu để tìm hoà bình cho chính nội tâm mình. Ðiều đó có thể xảy ra nếu mỗi cái tôi có thể thu nhỏ lại bớt, và vấn đề ngã chấp chỉ có thể giảm thiểu khi chúng ta có thể thật lòng soi rọi lại mình.
Một cách để làm việc đó là đặt tên cho các tư tưởng của mình (labelling). Có thế ta mới khám phá ra các tư tưởng xấu của mình, từ đó bớt quan trọng hóa mình, hay tư tưởng của mình. Ðó là hành Thiền.
Một cách khác để soi mình cặn kẽ là biết chấp nhận sự thật khi trong ta dấy lên những tư tưởng xấu và không thể đè nén chúng. Phải nhận ra rằng con người luôn khao khát thoả mãn các ngũ dục. Sự thành thật cặn kẽ này giúp cho cái tôi của chúng ta bớt trương phồng lên. Khi ta làm được như thế, lòng cảm thông (Bi) trở nên là một hiện thực - lòng cảm thông chân thật, không chỉ là lời nói đầu môi. Nói thì dễ thôi, ai cũng làm được điều đó. Từ 6 tuổi trở lên là đã có thể học thuộc lòng bài thiền quán về lòng từ. Những lời này rất hay, nhưng thực sự chúng giúp được gì cho ta? Sự lập đi lập lại những lời này khiến ta đánh mất xúc cảm ban đầu, trong khi ta sống tùy thuộc vào xúc cảm của mình. Ðừng hiểu lầm rằng ta sống theo lý trí. Sự thật là mọi việc bắt đầu bằng xúc cảm, rồi phát sinh ra hành động. Sau cùng tiến trình tư tưởng mới xuất hiện để lý giải cho hành động của mình.
Hiểu được cảm xúc của mình là một điều tối quan trọng. Ðó là điều cơ bản. Làm sao chúng ta "tri thức" biết thế nào là tình thương, lòng cảm thông nếu chúng ta không có những xúc cảm đó? Chúng ta có thể biết về chúng nhưng làm sao thể hiện chúng, nếu ta không có xúc cảm đó? Giải thoát không phải là một "tri thức", nó là ột cảm xúc.
Lòng cảm thông (Bi) là một tình cảm xuất phát từ trái tim , không cần có lý do hay điều kiện gì đặc biệt. Ta không cần phải đợi một dịp nào để cảm nhận được rằng ai đó đang phải đối mặt với một bi kịch trong đời hay cơ thể họ đang làm họ đau đớn. Nếu lòng cảm thông của ta phải được kích thích gọi mời thì lòng cảm thông không phải luôn luôn có mặt trong tim ta mà lúc có lúc không nhưng phần nhiều là không. Ðó không phải là một trái tim đầy cảm xúc. Một trái tim đầy cảm xúc - cũng giống như một trái tim đầy tình thương - luôn đầy thương cảm vì biết rằng ai cũng có nỗi khổ. Sự đau khổ đã được nhắc đến trong đế đầu tiên của tứ đế (khổ đế) của Phật pháp. Không có ai thoát khỏi sự đau khổ vì cuộc đời - sự hiện hữu của ta - chính là sự khổ đau. Nhưng nó không phải là bi kịch. Nó chỉ có nghĩa là vạn pháp trên đời đều ẩn chứa trong đó sự xung đột, bất như ý, bực dọc, lòng mong muốn được có nhiều hơn, muốn không bị mất mát, thay đổi hay hoại diệt. Trừ các vị A la hán, bản tánh con người không phải dễ dàng buông xả, vì thế lòng cảm thông (Bi) cần luôn có mặt, không đợi đến khi người khác bị cảnh long đong.
Nếu quá chấp Ngã, người ta khó thể cảm thông với người khác. Chấp Ngã là nguồn gốc của bao vấn đề giữa con người với nhau. Vì nếu ai cũng bận rộn lo cho cái tôi của mình, thì làm sao còn cảm xúc cho người khác. Thường người quan tâm đến kẻ khác bị coi là cá biệt, không giống ai. Thật đáng tiếc vì chính người có lòng thương và cảm thông đối với người khác mới thật là người hạnh phúc. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta thiếu lòng từ bi. Hạnh phúc thực sự khó tìm thấy ở mọi nơi. Trong khi chính hai tình cảm này (Từ và Bi) đem lại cho ta niềm vui vì giúp chúng ta bớt nghĩ đến cái tôi của mình, bớt chấp ngã. Người mà quá chấp ngã, không thể có niềm vui vì họ không bao giờ mãn nguyện trong việc thoả mãn cái tôi của mình. Không bao giờ ta có thể giải quyết hết những vấn đề của mình, vì hết điều này thì đã có điều khác dấy lên. Nhưng khi ta buông bỏ nó mà hướng tất cả chú tâm vào sự không toại nguyện, đau khổ mà mọi chúng sinh đều phải đối mặt, ta sẽ nhận ra được cái khổ của tất cả nhân loại. Lúc đó những nỗi niềm riêng của chúng ta trở thành quá nhỏ mọn, không đáng kể. Nỗi đau của ta chỉ là một phần của sự hiện hữu chung. Lúc đó lòng cảm thương cho chính mình và cho tha nhân sẽ phát sinh. Và quyết tâm để tận diệt mọi khổ đau sẽ được thêm sức mạnh cần thiết để làm điều đó.

3. Hỉ
Người bạn kế trong bốn người bạn của ta là sự biết chia sẻ niềm vui với ngươì khác hay là hỉ. Ðối nghịch với hỉ là lòng ganh tị. Chớ lầm hỉ với sự đãi bôi, giả đạo đức, nói một điều mà nghĩ một điều. Thí dụ nếu có ai được may mắn gì đó, ta phải chúc mừng nhưng trong lòng không có tình cảm đó, hay tệ hại hơn nói một điều mà nghĩ một điều khác. Giống như là "Sao tôi không là người may mắn đó? Sao lúc nào cũng là người khác?"
Chia sẻ niềm vui với người khác là liều thuốc nhiệm mầu, chữa bệnh trầm cảm. Ai đang vướng chứng bệnh này là vì họ không biết chia sẻ niềm vui với kẻ khác, họ thiếu hỉ tính. Trong cuộc đời ta không có nhiều dịp để mãn nguyện, vui mừng, nhưng nếu ta biết chia sẻ niềm vui của kẻ khác thì chắc chắn là ta sẽ có nhiều cơ hội để hạnh phúc hơn.
Ta có thể chia sẻ niềm vui với những người có khả năng. Nhiều người khó chấp nhận sự tài giỏi của người khác. Họ sẽ miễn cưỡng nói rằng: "Ứ, cho là ngườii đó có thể làm được như vậy đi, nhưng mà ..." và lập tức chê bai thay vì chia sẻ niềm vui với người tài giỏi hơn mình. Người khác có thể làm bao nhiêu việc giỏi hơn ta. Ngươì biết hát, người biết vẽ, biết nhảy, biết phiên dịch, người có thể làm ra tiền, người có thể sống không cần đến nó. Mọi người đều có một khả năng gì đó. Ta sẽ có biết bao niềm vui nếu biết chia sẻ với họ.
Chia sẻ niềm vui với người khác cũng là một cách tạo nghiệp lành. Tôi đã ở một làng nhỏ nơi có phong tục là khi có chuyện gì vui trong làng, người ta lại ra chùa đánh chuông báo với mọi người. Ðược mùa, gả vợ gả chồng cho con , xuất viện, làm ăn tốt, sửa được nhà... bất cứ điều gì có thể làm cho người ta vui mừng. Khi tiếng chuông vang lên, mọi người đều nhìn ra hướng đó mà nói lời chúc mừng. Người đánh chuông đã tạo nghiệp lành bằng cách làm cho mọi người có thể chia sẻ niềm vui với mình. Những người kia cũng tạo được nghiệp lành vì đã chia sẻ niềm vui với người khác.
Nhiều nơi khác không có phong tục đó. Ta phải tự rung tiếng chuông hoan hỷ trong lòng mình. Ðó là một điều rất quan trọng để nhớ, phải nhớ những điều Phật dạy trong mọi hoàn cảnh, để thực hành chúng. Không phải chỉ nhớ trong một hoàn cảnh nào đó, hay khi có tai biến, nhưng phải luôn luôn nhớ đến chúng vì đó là bí quyết để sống một cuộc đời hạnh phúc và bình an. Phật đã nói: "Ta chỉ dạy một điều là đau khổ, và đoạn diệt khổ". Phật đã đại nguyện thệ như thế và đã thực hiện được những điều đó. Ðó là Phật pháp - đoạn diệt khổ. Ta phải luôn nhớ chấp ngã là nguồn gốc của mọi vấn đề và cố gắng sửa đổi, nếu không là ta đã quên lời Phật dạy. Những lời đó phải thường trú trong tâm trí chúng ta vì lợi ích của chúng không chỉ là lợi ích nhất thời.
4. Xả
Người bạn cuối cùng của chúng ta là lòng an nhiên tự tại (Xả), một trong những tình cảm cao thương nhất. Ðối nghịch với nó là sự lo lắng bồn chồn. Nhưng chớ lầm xả với sự thờ ơ lãnh đạm. Thờ ơ là trạng thái tâm hồn nói rằng: "Tôi chẳng quan tâm khi việc đó chẳng xảy ra cho tôi hay gia đình tôi. Tôi không muốn biết chuyện đó. Tôi không muốn phải bận tâm vì nó". Sự thờ ơ là thaí độ lạnh nhạt xa lánh. Thái độ đó không dung chứa tình thương, lòng từ. Ta chỉ muốn bảo vệ riêng cho mình, vì thế ta trở nên thờ ơ lãnh đạm.
Trong khi xả, hay sự bình an tự tại dựa trên trí tuệ, dựa trên sự hiểu biết rằng mọi sự vật đều thay đổi, đều hoàn toàn vô thường. Dầu chuyện gì xảy ra rồi nó cũng qua đi. Cái gì sẽ xảy đến cũng chẳng quan trọng gì. Cánh cửa đưa đến bất tử qua vô thường là cánh cửa không tên, có nghĩa là không có gì quan trọng cả. Trong cả vũ trụ này, không có gì quan trọng cả trừ sự giải thoát. Vì vậy sự thanh thản an nhiên (xả) phải xuất phát từ ý thức nội tâm rằng tất cả mọi vật đều thay đổi, dù cho chuyện gì đã xảy ra, tốt hay xấu, cũng không làm ta vui mừng hay buồn bã. Nó chỉ xảy ra. Chúng ta chỉ có mặt ở nơi này trong 60, 70, hay 80 năm. Vậy tất cả những lo lắng, chộn rộn là cho cái gì? Có gì để nắm giữ, có gì để mong cầu? Sự việc chỉ xảy ra.
Vì muốn bảo vệ cái tôi mà ta không có tâm xả, hoàn toàn an nhiên tự tại. Chúng ta sợ rằng "tôi có thể bị nguy hiểm, việc này việc nọ sắp ảnh hưởng tới tôi nên cuộc sống ta không yên ổn". Sự yên ổn mà mọi người theo đuổi chỉ là viễn vọng, ảo tưởng. Không có sự yên ổn thật sự. Ai cũng phải đối mặt với cái chết. Tất cả những gì chúng ta sở hữu đều sẽ bị hủy diệt. Tất cả những người thương của ta sẽ chết, hoại diệt, bệnh hoạn, bỏ rơi ta, thay đổi tình cảm...
Không có gì có thể yên ổn trong những điều kiện như thế. Sự xáo trộn, không an ổn phát sinh khi những việc không như ý xảy ra là do ta ảo tưởng rằng ta đã đánh mất cái gì đó rất quan trọng cho sự sống còn của mình. Hành động như thế là để bảo ệ cái tôi của mình. Nhưng ngay chính sự sống còn của chúng ta cũng là ảo tưởng vì có gì để bảo đảm rằng chúng ta sẽ luôn khỏe mạnh, luôn an toàn bảo đảm.
Ðể có được tâm xả không chỉ có quyết tâm muốn an nhiên tự tại là đủ. Quyết tâm là cần thiết nhưng nó dễ đưa đến sự dồn nén. Chúng ta thường đè nén những tình cảm mãnh liệt của mình. Làm vậy cũng chẳng có ích lợi gì, vì lần lần những dồn nén cũng bị nổ tung. Ta dồn nén thứ này thì nó cũng phát ra thứ khác. Dồn nén có thể dẫn đến bệnh hoạn trầm uất. Nếu ta không bị xáo trộn vì việc này thì cũng sẽ bị xáo trộn về việc khác.
Sự an nhiên hay tâm xả cần xuất phát từ bên trong. Khi được ươm trồng tốt, tâm xả là một trong những bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ. Chỉ có đấng giác ngộ mới có được tâm buông xả vô lượng. Nhưng nếu chúng ta không bắt đầu thực hành tâm buông xả ngay từ bây giờ, thì đến lúc nào ta mới tiến hơn, trưởng thành hơn?
Qua thiền định ta có thể bắt đầu thấy được sự chộn rộn thay đổi luôn luôn của tâm, có ai nhớ được mình nghĩ gì trong 10 phút trước đây không? Trong kỳ ngồi thiền trước? Hay lần trước đó nữa? Tuyệt nhiên không, ta không nhớ gì cả, không giữ lại được ý nghĩ gì. Tất cả là thoáng chốc, không phải vì ta đã có căn nhà hay người thân nào đó bên cạnh mình suốt 30 mấy năm nay mà ta nghĩ rằng ta có thể giữ họ mãi bên mình. Chỉ vì những thứ ấy đã ở bên ta một thời gian dài, ta tưởng như các thứ ấy là vĩnh cửu. Nhưng những khi ngồi thiền ta có thể thấy là các tư tưởng của ta đến rồi đi, không bao giờ ở lại với ta. Do đó có gì đâu để lo phiền, nếu như mọi vật đều thay đổi, luôn đến rồi đi.
Lúc nào còn những chộn rộn đó là còn có một con người đằng sau đó. Trái tim còn nhịp thở, máu còn luân, tư tưởng, tình cảm còn thay đổi, các tế bào còn sinh diệt, thì ta còn sống. Khi tất cả ngưng lại ta chỉ còn là một cái xác. Tất cả những thay đổi bất ổn định chính là sự sống. Vậy mà ta cứ cố làm cho mọi thứ vĩnh viễn không thay đổi. Ta muốn chúng bất di dịch. Ðây là Tôi và tôi muốn tất cả đều biết như thế. Tôi có một cái tên và có một số người, một số của cải thuộc về tôi. Tôi có những quan điểm và tôi muốn tất cả mọi người đều biết như thế. Ðó là sự gán ghép tính cách vĩnh viễn vào một con người. Tuy nhiên khi còn là con người, còn có những thay đổi, để cuối cùng nó sẽ biến đổi thành một xác chết, lúc đó thì ta có thể bắt đầu lại tất cả.
Ðể có được tâm xả lòng thanh thản ta còn phải có những tánh tốt cơ bản khác. Như sự chấp nhận nếu không biết chấp nhận, ta sẽ sinh ra khổ đau chính là sự phản kháng của mình. Ðối nghịch với chấp nhận là phản kháng, chống đối và làm như thế chỉ mang lại đau khổ. Như khi ta đẩy ngược lại với một lực gì tay ta sẽ đau nhưng nếu xuôi theo nó thì sẽ không đau, chấp nhận sự việc như nó xảy ra sẽ đem lại thanh thản, an nhiên tự tại cho ta và sự thanh thản đem an lạc lại cho ta.


Tứ Vô Lượng Tâm hay bốn trạng thái tâm cao thượng vừa nêu trên (từ, bi, hỉ, xả) đem lại niềm vui trong lòng ta nếu ta biết vun trồng các tình cảm này đến một mức độ nào đó, ta sẽ cảm thấy tự tại an bình thoải mái vì ta nhận ra rằng cho dù thế giới có đảo điên nghiêng ngả, ta không hề bị lay chuyển, như Ðức Phật đã từng tuyên bố: "Ta không tranh chấp với thế gian, chính thế gian tranh chấp với Ta".
Thật là bình an, thanh thản!

VÔ NGÃ, VÔ ƯU
Ni Sư Ayya Khema; Dịch Việt: Diệu Ðạo
Nguyên Tác: "Being Nobody, Going Nowhere"
Wisdom Publications, 1987
CHƯƠNG IV


Wednesday, May 21, 2014

Yêu ai nhất?

“Một hôm vua Ba Tư Nặc hỏi phu nhân Mạt Lợi: – Trên đời nầy ái khanh yêu ai nhất?
Phu nhân Mạt Lợi đáp: – Dĩ nhiên, người thiếp yêu nhất chính là bệ hạ.
Vua Ba Tư Nặc nói: – Trẫm cũng đoán rằng khanh sẽ nói như thế.
Phu nhân Mạt Lợi mỉm cười:
- Tâu bệ hạ, nếu thánh thượng cho phép, thần thiếp sẽ nói khác đi một tí, nhưng xác thực hơn.
Vua Ba Tư Nặc bảo: – Khanh cứ nói!
Phu nhân Mạt Lợi thưa: – Tâu bệ hạ, người mà thần thiếp yêu quí nhất, chính là thần thiếp.
Vua Ba Tư Nặc ngạc nhiên: – Sao? Mình lại yêu mình? Trẫm không hiểu khanh muốn nói gì?
Phu nhân Mạt Lợi thưa:
- Tâu bệ hạ, vì có ái trọng tự ngã mình, nên thần thiếp mới yêu thương bệ hạ, vì bệ hạ là người đem lại hạnh phúc cho cái tự ngã nầy.
Vua Ba Tư Nặc nói:
- Trẫm biết điều đó, nhưng vẫn chưa hiểu rõ ý khanh.
Phu nhân Mạt Lợi dè dặt:
- Tâu bệ hạ, thần thiếp mạn phép nêu ra một câu hỏi: “Trên đời nầy bệ hạ yêu thương ai nhất?”
Vua Ba Tư Nặc cười: – Ái khanh chứ còn ai!
Phu nhân Mạt Lợi hỏi tiếp:
- Giả sử thần thiếp yêu thương một người đàn ông khác thì bệ hạ sẽ làm gì?
Vua Ba Tư Nặc lúng túng: – ?, trẫm sẽ…, trẫm sẽ…
Phu nhân Mạt Lợi tiếp lời:
- Bệ hạ sẽ nổi trận lôi đình, chém đầu thần thiếp ngay lập tức phải không?
Vua Ba Tư Nặc giả lả: – Khanh hỏi rắc rối quá! Rắc rối thật!
Phu nhân Mạt Lợi hỏi: – Tâu bệ hạ, có đúng thế không ạ?
Vua Ba Tư Nặc đáp: – ?… à…
Phu nhân Mạt Lợi hỏi dồn: – Ðúng, phải không bệ hạ?
Vua Ba Tư Nặc im lặng giây lâu, nói: – Có lẽ khanh nói đúng.
Phu nhân Mạt Lợi nói: – Thế là bệ hạ đã đáp câu hỏi của thần thiếp rồi!”
 
Tâm ta đi cùng khắp
            Tất cả mọi phương trời
            Cũng không tìm thấy được
            Ai thân hơn tự ngã
            Ði tìm khắp phương trời
            Cũng không tìm đâu thấy
            Ai thân hơn tự ngã
            Vậy ai yêu tự ngã
            Chớ hại tự ngã người.


Sưu tầm

Monday, May 19, 2014

Bàn tay của mẹ

Một thanh niên học hành rất xuất sắc nộp đơn vào chức vụ quản trị viên cho một công ty lớn. Anh ta vừa qua được buổi phỏng vấn đầu tiên, ông giám đốc trực tiếp phỏng vấn lần cuối để quyết định nhận hay không nhận.
Viên giám đốc xem xét học bạ của anh thanh niên. Tất cả đều rất tốt vì năm nào, từ bậc trung học đến các chương trình nghiên cứu sinh sau đại học, anh cũng đều xuất sắc, không năm nào mà anh thanh niên này không hoàn thành vượt bực.
Viên giám đốc hỏi:
- “Anh đã được học bỗng nào của trường nào chưa?”
Người thanh niên đáp:
- “Thưa, không ạ”

Viên giám đốc lại hỏi tiếp:
- “Thế cha anh trả học phí cho anh đi học à?”
Anh đáp:
- “Cha tôi chết khi tôi vừa mới một tuổi đầu. Mẹ tôi mới là người lo trả học phí cho tôi học tập”
Viên giám đốc lại hỏi:
-“Mẹ của anh làm việc ở đâu vậy?”
Anh đáp:
- “Thư, mẹ tôi giặt áo quần cho các tiệm giặt là!”.

Viên giám đốc bảo người thanh niên đưa đôi bàn tay cho mình xem. Anh thanh niên đưa hai bàn tay mịn màng và rất đẹp của mình cho ông giám đốc xem.
Viên giám đốc hỏi:
- “Vậy từ trước nay, anh có bao giờ giúp mẹ mình giặt giũ áo quần không?”
-“Chưa bao giờ cả bỡi mẹ luôn bảo tôi phải lo học và đọc thêm nhiều sách. Hơn nữa, mẹ tôi giặt áo quần nhanh hơn tôi nhiều.”Người thanh niên đáp.
Viên giám đốc dặn:
-“Tôi có một việc yêu cầu anh làm, anh thực hiện được không ?”
- Gì ạ ?
-“Hôm nay khi về nhà, anh xin mẹ mình để anh lau sạch bàn tay bà và rồi ngày mai đến gặp tôi nhé . ”
Người thanh niên cảm thấy công việc này quá dễ và mình có thể làm rất tốt. Nên khi vừa về đến nhà, chàng liền thưa với mẹ để xin mẹ được lau sạch đôi bàn tay của bà. Mẹ anh cảm thấy rất ngạc nhiên nhưng vẫn sung sướng và rồi cũng buồn buồn đưa đôi bàn tay mình cho con trai.
Chàng thanh niên từ từ lau sạch đôi bàn tay của mẹ. Khi lau, nước mắt bỗng tuôn ràn rụa bỡi đây là lần đầu tiên anh mới khám phá ra rằng trên đôi tay nhăn nheo của mẹ mình đầy những vết chai, sần sùi. Những vết sần này làm bà đau nhức đến rùng mình dù chỉ được lau bằng nước sạch. Lần đầu tiên trong đời, anh thanh niên nhận thức được rằng, chính từ đôi bàn tay giặt quần áo mỗi ngày này của mẹ đã giúp anh có cái ăn cái mặc, tiền bạc tiêu xài và trả học phí cho anh đến trường qua nhiều năm rồi.
Những vết chai trên đôi bàn tay của mẹ là cái giá phải trả cho đến ngày anh tốt nghiệp, cho những xuất sắc trong học vấn và cho cả tương lai sẽ tới của anh.
Sau khi lau sạch đôi tay của mẹ, anh thanh niên lặng lẽ giúp mẹ giặt hết phần áo quần còn lại mà mẹ anh vẫn làm hằng ngày khi mang từ tiệm về.
Tối đó, hai mẹ con mới chuyện trò với nhau thật là lâu, điều mà từ trước đến giờ họ ít khi làm.
Sáng hôm sau, người thanh niên tới gặp ông giám đốc.
Viên giám đốc để ý thấy những giọt nước mắt chưa ráo hết trong đôi mắt của người thanh niên, ông hỏi:
- “Anh có thể cho tôi biết những gì anh đã làm và đã cảm nhận được hôm qua ở nhà mình không?”
Người thanh niên đáp:
-“Tôi đã lau sạch đôi tay của mẹ mình và cũng đã giặt hết phần áo quần còn lại mà hàng ngày mẹ tôi đã làm .”
Viên giám đốc hỏi
-“Thế cảm tưởng của anh như thế nào?”
Người thanh niên đáp:
- “Thứ nhất, bây giờ tôi mới hiểu thế nào là ý nghĩa của lòng biết ơn. Không có mẹ, tôi không thể có được những thành công được như bây giờ. Thứ hai, qua việc hợp tác với nhau, và qua việc giúp mẹ giặt quần áo, giờ tôi mới ý thức rằng thật là khó khăn và gian khổ để hoàn tất công việc của mẹ. Thứ ba, tôi biết ơn sự quan trọng và giá trị của quan hệ gia đình.”
Viên giám đốc nói:
- “Ðây mới là những gì tôi đang tìm kiếm nơi người sẽ là quản trị viên trong công ty của chúng tôi. Tôi muốn tuyển dụng một người biết ơn sự giúp đỡ của những người khác, một người cảm thông sự chịu đựng của những người khác để hoàn thành nhiệm vụ, và một người không chỉ nghĩ đến tiền bạc là mục đích duy nhất trong cuộc đời mình. .”



Sunday, May 18, 2014

Giấc mơ kỳ lạ của những người được... thay tim

Trái tim vẫn được xem như trung tâm, nơi khởi phát của bao nhiêu khát vọng, mơ ước, lý tưởng, tình yêu, niềm tin; liệu một người phải (được) sống bằng trái tim của người khác thì điều gì sẽ xảy ra?
Cả nước Việt Nam trong suốt lịch sử mấy nghìn năm mới có khoảng chục người bệnh được thay tim mới. Bất hạnh tột độ vì bệnh tật, họ đã phải ký vào văn bản cam kết “năm ăn năm thua” giữa đôi bờ sinh - tử để các bác sĩ mở lồng ngực mình, tháo bỏ quả tim máu thịt cha sinh mẹ dưỡng đem đi… chôn, rồi thay quả tim đang phập phồng đập của một người bất hạnh “chết não” khác vào vị trí còn trống đó.

Anh Bùi Văn Nam.
Ca ghép tim đầu tiên ở Việt Nam diễn ra vào ngày 17.6.2010, tại Bệnh viện 103, Hà Nội. Người “sống bằng trái tim “khác” mà lịch sử ghép tạng nước nhà không thể nào không ghi tên, đó là anh Bùi Văn Nam, 48 tuổi, người xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Tính đến nay, Việt Nam đã có 3 bệnh viện làm chủ được công nghệ “thay tim” là BV 103, BV Việt - Đức (Hà Nội) và BV Đa khoa Trung ương Huế.

Những giấc mơ “trai gái” không cưỡng nổi

Câu hỏi đặt ra với tôi là: Trái tim vẫn được xem như trung tâm, nơi khởi phát của bao nhiêu khát vọng, mơ ước, lý tưởng, tình yêu, niềm tin; liệu một người phải (được) sống bằng trái tim của người khác thì điều gì sẽ xảy ra? Phóng viên Báo Lao Động đã tìm gặp và phỏng vấn nhiều người “mang trái tim thứ hai”, “sống kiếp sống thứ hai”, điều hết sức bất ngờ là sau khi tỉnh dậy từ ca “đại phẫu”, họ đều gặp những giấc mơ, những tâm tư, trằn trọc không dễ gì lý giải nổi.

Nguyên tắc tối thượng, vừa là y đức, vừa là luật pháp trong các ca ghép tim kể trên, là không ai được tiết lộ về danh tính, thân phận của người chết não đã hiến tim cho người bệnh khác. Thế nhưng khi nhà báo, bác sĩ, hoặc chính bệnh nhân “có quả tim mới” cùng thân nhân họ đi tìm hiểu “ngoài lề” thì hóa ra bối cảnh giấc mơ, khát vọng của người sau khi nhận tim luôn trùng khít với bối cảnh mà người “cho tim” từng sống.

Có ông già nhận tim của cậu bé chết trẻ, ông ta mơ chuyện tán gái, yêu đương, giận hờn ghen tuông; có anh nhà giàu ngoại ngũ tuần lên ông nội-ông ngoại, rồi nhận tim của một lao động tự do nghèo bị ngã giàn giáo chết, đêm nào ông ta cũng mơ về một mái nhà tranh với hai đứa con bé xíu…

Trong cơn mưa, đường nhão nhoét, lối vào xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định gập ghềnh, hang hốc "ổ trâu", "ổ voi" khiến những cái xe ôtô gầm thấp liên tục bị sa lầy. Anh Bùi Văn Nam bước sang tuổi 50, người vẫn gầy gò, nói năng nhỏ nhẹ, ăn uống nhỏ nhẻ thận trọng sau gần 2 năm được thay quả tim mới. Anh bảo: Tôi được sống lại làm người là điều mà tôi, gia đình và làng xóm không ai tin nổi. Hôm ở Viện 103, sau ca phẫu thuật cực kỳ nguy hiểm, anh mở mắt ra thì thấy Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Y tế đều đến chúc mừng. Xúc động quá.

Anh về làng thì cả làng kéo đến, họ bảo may ra thì hồn ma “thằng Nam” hiện về, chứ trên đời này làm gì có ai thay được quả tim mới cho người thập tử nhất sinh như thế? Vợ anh Nam giờ lên Hà Nội làm giúp việc, mỗi tháng được hơn 2 triệu đồng, số tiền đó đúng bằng số tiền thuốc thang “chống đào thải” cho quả tim “người lạ” trong lồng ngực chồng mình.
“Đàn ông năm bảy lá gan, trái tim lơ là một tí đã sinh ra tơ tưởng, ngoại tình, huống hồ anh Nam thay cả quả tim mới 100% vào lồng ngực mình…” - một người hàng xóm nói vui. Vốn là dân bưởng vàng, tay còn xăm trổ, từng “chơi” cả thuốc phiện ở trên Thái Nguyên, nhưng giờ đây, anh Nam kiêng cữ ghê lắm, tuyệt đối không ăn quán xá bẩn thỉu, không rượu bia, không cả ưu tư lo lắng. Vậy nhưng, trước câu nói đùa đúng “tim đen” kia, anh Nam bất ngờ quay ra hỏi nhà báo về cái lạ lùng của lòng dạ “sinh ra trai gái” trong cơ thể mình.

“Từ khi nhận được quả tim mới của ân nhân cứu mạng, rất lạ, là tôi hay mơ ngủ. Tôi mơ về những trò yêu đương, tán cô này, cô này không thích tôi, cô ấy mắng mỏ chửi bới tôi không ra gì, tôi ngậm ngùi bỏ cuộc tán cô khác. Cô khác đi lấy chồng, thì bỗng dưng cô tôi tán lần trước quay lại mê tôi. Rồi trai gái yêu đương, giận hờn, ghen tuông. Đêm nào cũng mơ, mơ không làm sao… cưỡng lại được.
Nói thật là cơ thể tôi không thèm muốn chuyện ''giường chiếu'', vì sức khỏe yếu. Các bác sĩ cũng bảo kiêng, nên tôi để vợ tôi đi làm giúp việc tít trên Hà Nội. Tôi thấy trò yêu đương, nghịch ngợm thậm chí “linh tinh” đó không hay ho gì, ở tuổi tôi, sức khỏe tồi tệ như tôi, nhưng đúng là cứ nhắm mắt lại là tôi… mơ chuyện đó. Mơ nhiều quá, tôi bèn cố nhớ lại từng chi tiết trong giấc mơ để so sánh xem liệu đời mình có từng trải qua không gian sống trong giấc mộng hằng đêm kia không.

Tôi nhớ, trước khi lấy vợ tôi bây giờ, tôi có yêu một người trong xã Trực Thắng này, giờ cô ấy vẫn đang sống ở cùng tổ dân cư với tôi đây. Nhưng tuyệt đối, gương mặt, không gian, diễn tiến tình yêu nó không giống tí nào với mối tình ấu thơ kia. Nó là tình yêu của người khác đã xâm nhập vào giấc mơ của tôi?

Hễ ngồi một mình là tôi lại chìm trong không gian, xúc cảm của người nào đó rất lạ. Nói thì bảo mê tín, chứ liên tục tôi thấy ai đó dúi ngón chân bên phải của tôi để nó “đá” vào gót chân bên trái của tôi... Có ai nhắc nhở, báo mộng gì chăng? Tôi không tin chuyện mê tín, nhưng đó là chuyện thật diễn ra trong suy nghĩ, trong cơ thể tôi. Tôi đem chuyện kể với bác sĩ, họ bảo: Đó là ký ức tế bào, suy nghĩ, tình cảm, ký ức của người đã chết vẫn lưu giữ trong trái tim chưa bao giờ ngừng đập của họ. Và thời gian đầu, tôi sống trong “không gian” của người đó, giấc mơ sẽ mờ dần, rồi tôi sẽ lại yêu vợ tôi như trước khi thay tim thôi” – anh kể.

Đợi mãi không thấy mình bớt được cảnh trai gái, nghịch ngợm “không hay ho gì”, anh Nam quyết định nhờ người thân đi tìm tung tích của người đã chết não để rồi trái tim họ đã được “khuyến” (chữ dùng của anh Nam) cho người suy tim đến độ phải ném bỏ trái tim cũ… Chỉ biết anh ta ngoài 20 tuổi, tên là N.V.T, bị tai nạn giao thông chết ở đường cao tốc Pháp Vân (Hà Nội), khi lái xe máy chở hàng lậu chạy trốn lực lượng chức năng.

Anh Nam bảo, anh nhờ người rà soát hết các vụ tai nạn chết người ở thời điểm 2010 trong khu vực đó, nhưng không tìm được manh mối gì nhiều hơn. Anh bèn dọn một khu vực trang trọng nhất trong nhà mình để lập một cái bàn thờ, có nhang khói hoa đăng, đủ sóc vọng cúng bái để tri ân người đã cho mình “một kiếp sống khác”.

“Thấm thoắt thế mà đã sắp đến kỳ bốc mộ cho cậu ấy rồi, còn trái tim cậu ấy vẫn đập suốt hơn hai chục năm qua, giờ nó đập trong lồng ngực tôi đây. Tôi cứ nghĩ, việc tôi được sống cũng chính là một giấc mơ rồi…” - anh Nam áp bàn tay gầy guộc có nhiều vết xăm trổ vào ngực mình rồi nghẹn ngào nói.

“Sinh lý” cứ mạnh quá thế này, liệu em có lấy được vợ không nhỉ?
Ông Nhiệm vác bao gạo đi băng băng.

Ông Dương Văn Nhiệm ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc cũng mới được các bác sĩ BV Việt - Đức tiến hành thay tim vào năm 2012. Khi chúng tôi tìm đến nhà, ông Nhiệm đang khệ nệ vác những bao gạo lớn chất lên khu vực kho bãi khổng lồ. Vợ chồng ông buôn gạo có tiếng trong khu vực. Không ai tin ông là một người vừa từ cõi chết trở về.

Ông Nhiệm thủng thẳng liếc nhìn vợ: Bà xã tôi trông thế này tôi còn bế ngon nữa là mấy cái… bao gạo. Mỗi ngày ông Nhiệm đi bộ 4 cây số để rèn luyện sức khỏe. Các bác sĩ đang kêu trời vì ông ăn uống nhiều quá, to béo quá, không tốt cho một bệnh nhân mới ghép tim.

“Bác sĩ bảo tôi phải cẩn trọng, đừng có vác bao gạo chạy băng băng thế. Rằng tôi bây giờ phải sống tốt, không phải sống vì một mình tôi đâu. Và tôi hiểu, tôi còn sống vì vị ân nhân đã cho tôi một lần sinh ra thứ hai kia nữa, người đã hiến trái tim cho tôi!” - ông Nhiệm ngậm ngùi.
Ông Nhiệm và vợ kể chuyện giấc mơ.


“Tôi đêm nào cũng mơ, mơ liên tục về một mái ấm nào đó. Vợ tôi biết chuyện bảo, anh bây giờ không phải của một mình em nữa rồi. Biết là vợ trách, tôi cũng không muốn mơ như vậy đâu, nhưng hễ cứ nhắm mắt là những hình ảnh kia lại hiện về. Ngôi nhà tranh giản dị, thấp lè tè, “ở đó có một người phụ nữ gương mặt hiền hậu, cô ấy trẻ và gầy hơn vợ tôi nhiều. Không bao giờ tôi bước được vào ngôi nhà đó, cứ đứng ở ngoài và nhìn thôi. Tôi cũng không bao giờ nói chuyện được với họ. Chỉ biết, trong nhà có hai đứa con nhỏ, đứa khoảng 12 tuổi, đứa 5 tuổi, chúng rất ngoan, kháu”.

“Ông có biết vì sao mình lại liên tục có giấc mơ lạ lùng lặp lại như thế không?” - tôi hỏi. Ông Nhiệm nói ngay, như đã ngẫm nghĩ từ lâu lắm: “Đó là vợ, các con của người đã cho tôi trái tim, anh ta là lao động nghèo, đã chết khi đi làm thợ xây dựng tự do, bị ngã giàn giáo.

Nhà báo ạ, mới đêm qua thôi, tôi lại mơ đến ngôi nhà ấy. Lần này tôi đứng ở gần, nhìn thấy một đứa mặt rất gian, nó vạch mái tranh ngôi nhà kia ra, chắc là thấy nhà người ta mẹ góa con côi, định vào ăn trộm. Tôi kêu ầm lên, ú ớ tỉnh dậy, thì ra tôi đang ôm vợ tôi” (bà vợ ông Nhiệm ngồi cạnh xác nhận).

Vừa xúc động, vừa bật cười khi chúng tôi đến BV Việt - Đức gặp chàng trai 25 tuổi Lê Quốc Việt (quê xã Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An) - người vừa mới trải qua ca ghép tim tháng 5.2012. Cậu bé đã vượt qua rất nhiều “ứng cử viên” bệnh tình thê thảm chờ “nhận tim” khác, để được sống làm người. Bởi người cần ghép tim cực đông, còn người chết não hiến tạng (nhất là hiến tim) thì cực hiếm.

Việt trở về với trái tim người khác, lúc nào cũng thấy tim mình đập mạnh hơn, cơ thể nóng ấm hơn, đặc biệt là nhu cầu “chăn gối” tăng cao bất thường. Cậu luôn nghĩ đến người đã cho mình trái tim, cậu ta có vợ và có con rồi, chắc là sinh hoạt tình dục thường xuyên nên quả tim nó vẫn… nhớ thói quen ấy (?).

Còn Việt thì vẫn trai tơ: “Trước đây, chưa bao giờ gặp phụ nữ em lại “rộn ràng” như bây giờ. Lúc ngủ “cũng không được yên”. Nó mạnh lắm, khó kiểm soát lắm. Em còn lo, cứ mạnh quá thế này thì sau này có lấy được vợ nữa không đây?”.

Ước mơ lớn nhất của Việt là tìm được gia đình người đã chết rồi cho Việt trái tim hiện đang đập thình thịch trong lồng ngực Việt, để rồi cậu sẽ làm người “cha nuôi”, nguyện chăm sóc các con anh ấy suốt đời…

(LĐ) - Số 2 - Thứ bảy 19/01/2013 20:41
Lãng QuânBáo Lao Động

Một giây nóng nảy, đánh chết người tình của mẹ

TP - Có ngủ mơ thấy ác mộng, anh trai làng Nguyễn Văn Kiên (SN 1991) cũng chưa từng nghĩ sẽ gây gổ với một ai. Nhưng trong một lần nóng giận, cậu đã cướp đi sinh mạng một người.
Gặp Kiên ở trại giam Thanh Xuân. Nhìn Kiên chẳng có vẻ gì ngang ngạnh hay lạnh lùng của kẻ thủ ác. Kiên có nét chân chất của trai làng lam lũ. Cậu có khuôn mặt vuông vức, dáng người dong dỏng, nước da sạm nắng, giọng nói đặc tiếng quê vùng Thanh Oai, Hà Nội…
“Lúc ấy em bực quá. Em cầm cái thước cũng chỉ định vụt vào bả vai ông ấy để dọa đuổi ông ấy về. Ai ngờ đánh trúng thái dương, ông ấy ngã vật ra đất”

Bằng chất giọng rủ rỉ, có phần e dè, Kiên kể về gia cảnh của mình. Bố mất sớm, nhà còn lại ba mẹ con và bà nội đã ngoài 80 tuổi. Kinh tế gia đình trông cậy vào tiền công đi làm phụ hồ của Kiên và những đồng ít ỏi thu được từ ba sào rau màu của mẹ.
Chia sẻ với cảnh khó khăn nhà cậu, nhiều người đã giúp đỡ, trong đó có ông Huấn, người bạn của bố. Ông ấy đã vợ con đề huề, nhưng lại nảy sinh tình cảm với mẹ Kiên. Lâu dần, hai người thường xuyên qua lại.
Điều này làm Kiên cảm thấy xấu hổ và tỏ thái độ phản đối mối quan hệ tình cảm này. Tuy nhiên, bi kịch chỉ xảy ra tối 14/11/2011.
Kiên nhớ lại, khoảng 21 giờ tối hôm ấy, ông Huấn đến nhà gặp mẹ cậu. Giữa hai người có xích mích, ông Huấn kéo tay mẹ Kiên ra đầu ngõ đòi nói chuyện riêng, nhưng mẹ Kiên từ chối. Bực tức, ông Huấn lớn tiếng quát nạt, dùng sức mạnh thay cho lời nói. Chứng kiến cảnh đó, Kiên cầm chiếc thước gỗ to dài dùng trong xây dựng, chạy ra sân bênh mẹ và lời qua tiếng lại đuổi ông Huấn về.
…Đùng cái, quanh nhà Kiên ầm ĩ tiếng nói, tiếng chân giục giã đưa người đi cấp cứu. Lảng ánh mắt vào phía trong tường, Kiên nói: “Em vụt có một cái, rồi thấy ông ấy ngất, em liền hô hoán mọi người đưa ông ấy đi bệnh viện Thanh Oai, sau chuyển về Việt Đức. 3h chiều hôm sau thì ông ấy mất, em ra xã đầu thú…”.
Bình tĩnh hơn…

Đã hơn hai năm kể từ cái tối định mệnh ấy, Kiên vẫn sốc. Nằm trong trại, thi thoảng cậu lại ám ảnh với hình ảnh nạn nhân ngã vật xuống đất và cảm giác lúc ôm ông ấy chở đến bệnh viện cấp cứu. “Em vẫn không thể tin là mình đã cướp sinh mạng của một người khác”. Ngày trước đi học chẳng bao giờ bị cô giáo nhắc nhở vì hạnh kiểm yếu kém. Kiên bảo, “con trai hay nghịch ngợm, đánh nhau, nhưng em thì không. Trong nhà, cũng không ai nóng tính, bố em trước sống hiền lắm”.
Kiên chua xót: “Nhiều lúc em cũng thấy sợ giây phút nóng giận, mất kiềm chế của bản thân. Một chút nóng giận, thiếu kiềm chế, em đã mất 13 năm của tuổi trẻ. Bình tĩnh giải quyết, đâu đến nỗi…”. Hối hận tội lỗi của mình, anh trai làng ham làm, mong miếng ăn đủ đầy như Kiên lại dằn vặt khi nghĩ về gia đình. “Em gái còn nhỏ, bà nội đã hơn 80, giờ mọi việc đặt hết lên vai mẹ. Cả nhà trông chờ vào ba sào ruộng rau màu. Nhà đã khó khăn giờ lại gặp thế này”.
Trong trại Thanh Xuân, Kiên được phân về đội khâu bóng. Được sự quan tâm của cán bộ quản giáo và công việc khâu bóng, cậu đã bình tâm hơn và học được sự nhẫn nại, kiềm chế. “Qua thời gian cải tạo, em đã mềm tính đi hơn, không còn bồng bột, nóng nảy như ngày trước nữa”.
Định hỏi Kiên, rằng đã nghĩ ngày ra tù làm gì chưa, nhưng tự thấy đích đó còn xa khi nghe cách cậu tính thời gian thụ án. “13 năm dài lắm. Một ngày trôi qua là thời gian thụ án của em bớt đi một ngày. Ngày nào cũng có người hết án, em cũng suy nghĩ nhiều. Đôi mắt có hàng mi dài như con gái vẫn nhìn xuống mặt bàn bằng kính như soi bóng mình, Kiên trấn an bản thân: “Giờ lo cải tạo đã, cuốc mãi cũng nên bờ, đi lâu cũng đến ngày về”.
Một lúc thiếu kiềm chế, Kiên đã đặt 13 năm tuổi trẻ vào sau song sắt nhà giam. Một cái giá thật đắt để cậu sửa mình và chuộc lại lỗi lầm.

Tien Phong, 08:29 ngày 10 tháng 04 năm 2013


Vì sao chúng ta không tử tế hơn?

Mùa tốt nghiệp đã qua, năm học mới đang bắt đầu, nhưng bài diễn văn của George Saunders trong lễ bế giảng tại Đại học Syracuse vẫn hết sức đáng đọc.
Dù nội dung không quá mới mẻ nhưng nó được lan truyền nhanh chóng, xuất hiện cả trên trang điện tử của New York Times, và đem lại niềm cảm hứng cho nhiều độc giả.

Theo thời gian, những bài diễn từ như thế này đều rập theo cùng một kiểu khuôn mẫu truyền thống, ấy là: Một gã già nua, với những năm tháng tươi đẹp nhất đã lùi vào dĩ vàng, kẻ đã vấp phải không ít những sai lầm kinh khiếp (chính là tôi đây), đem đến lời khuyên chân thành cho một nhóm các bạn trẻ tuổi sáng lạn nhiệt huyết mà những năm tháng tươi đẹp nhất trong cuộc đời còn đang ở phía trước (chính là các bạn).

tử tế
George Saunders. Ảnh: Damon Winter/The New York Times

Với người già, ngoài chuyện bạn có thể vay tiền họ hay đề nghị họ khiêu vũ một điệu nhảy cổ lỗ sĩ cho các bạn xem và tha hồ cười, họ còn hữu dụng ở một điểm, ấy là bạn có thể hỏi họ: “Nghĩ lại những chuyện ngày xưa, bác có tiếc nuối day dứt điều gì chăng?” Và họ sẽ kể bạn nghe. Đôi khi như bạn biết đấy, họ tự kể ra dù bạn chẳng hỏi. Thậm chí có khi bạn yêu cầu rành rọt là thôi đừng có kể ra, thế mà họ vẫn cứ kể.
Vậy điều gì khiến cho tôi tiếc nuối day dứt?
Nghèo túng ngày này qua tháng khác? Không phải. Hay những công việc tồi tệ, như nghề “bẻ khuỷu chân giò trong lò mổ?” Không, tôi chẳng day dứt chuyện đó. Cởi truồng nhảy lộn đầu xuống sông ở Sumatra, đầu óc choáng váng, rồi nhìn lên thấy khoảng 300 con khỉ ngồi trên một đường ống, đang đại tiện xuống dòng sông mà tôi đang há mồm bơi trần như nhộng? Hay là chuyện bị ốm gần chết sau đó, và dính bệnh tật trong suốt bảy tháng tiếp theo? Không, những chuyện đó chẳng sao cả. Hay là liệu tôi có day dứt về những trường hợp đáng xấu hổ? Như cái lần chơi khúc côn cầu trước một đám đông, trong đó có người con gái tôi thực sự si mê, thế mà chẳng hiểu bằng cách nào tôi bị té xuống, miệng ọe ra một tiếng, lóng ngóng tự làm cho bóng bay vào khung thành của mình, đồng thời đánh văng cây gậy vào đám đông và suýt nữa thì bay trúng người cô ấy? Không. Tôi thậm chí cũng chẳng day dứt gì chuyện đó.
Nhưng có chuyện này làm tôi day dứt:
Hồi tôi học lớp Bảy, có một đứa trẻ mới trong lớp. Để bảo toàn danh tính cho cô ấy, trong diễn từ này tên cô được mặc định là “ELLEN.” ELLEN rất bé, hay xấu hổ. Cô đeo đôi mục kỉnh, loại mà vào thời ấy chỉ những bà già mới đeo. Những khi bối rối hồi hộp, tức là hầu như lúc nào cũng vậy, cô bé có thói quen cho một dẻ tóc vào mồm nhai.
Cô bé nhập trường, đến sống trong khu dân phố của chúng tôi, và hầu như chẳng được ai coi trọng, nhiều khi còn bị trêu chọc (“Tóc mày ngon nhỉ” – kiểu như vậy). Tôi có thể thấy chuyện đó làm cô bé bị tổn thương, và vẫn nhớ hình ảnh của cô sau mỗi lần bị trêu như thế: mắt nhìn xuống, chạnh lòng một chút, như thể nhận ra vị trí nhạt nhòa của mình trong đời sống, và cô chỉ biết ráng hết sức để mình tự biến mất. Một lúc sau cô bé dạt đi chỗ khác, dẻ tóc vẫn còn ngậm trong miệng. Tôi hình dung khi tan trường cô bé về nhà, mẹ cô sẽ hỏi: “Ngày hôm nay thế nào con yêu?” và cô sẽ nói, “Tốt ạ”. Rồi mẹ cô sẽ nói, “Con chơi với nhiều bạn không?” và cô trả lời: “Có ạ, nhiều lắm”.
Có khi tôi thấy cô bé quanh quẩn trước sân nhà, như thể sợ phải rời khỏi đấy.
Và rồi – họ chuyển đi. Chỉ vậy thôi. Chẳng có bi kịch, cũng chẳng xảy ra một vụ bắt nạt gớm ghê cuối cùng.
Hôm trước cô bé còn ở đó, ngày hôm sau đã không còn nữa.
Hết chuyện.
Vì sao tôi day dứt việc này? Vì sao bốn mươi hai năm sau tôi vẫn nghĩ về nó? So với đa số những đứa trẻ khác, thực ra tôi khá tử tế với cô bé. Tôi chưa bao giờ nói điều gì không hay với cô ấy. Thậm chí, đôi khi tôi còn bảo vệ cô ta (một cách vừa phải).
Thế mà. Chuyện ấy vẫn làm tôi băn khoăn.
Vậy nên đây là sự thật mà tôi biết, dù nó có hơi cổ lỗ, và tôi cũng không thật rõ mình phải làm gì với nó.
Đó là, điều khiến tôi tiếc nhất trong đời mình là những lần để lạc mất lòng tốt.
Đó là những khoảnh khắc khi thấy một người nào đó, chịu đau khổ ngay trước mặt mình, và rồi tôi đã hành xử một cách … hợp lý. Dè dặt. Vừa phải.
Nếu ta nhìn qua lăng kính từ phía ngược lại và đặt câu hỏi: Ai, trong cuộc đời bạn, khiến bạn nhớ đến một cách dễ chịu nhất, với cảm giác quý mến thật rõ ràng?
Chắc chắn đó những người đối xử với bạn tốt nhất.
Nói ra thì có phần dễ dãi, và chắc là khó thực hiện, nhưng tôi cho rằng chúng ta nên đặt ra một mục tiêu trong cuộc đời: cố gắng tử tế hơn.
Câu hỏi mấu chốt đầu tiên là: Vấn đề của chúng ta là gì? Vì sao chúng ta không tử tế hơn?
Mỗi người trong chúng ta sinh ra với một chuỗi những mê lầm cố hữu, có lẽ chúng là một phần trong bản năng sinh tồn hình thành do chọn lọc tự nhiên: (1) cho rằng mình là trung tâm vũ trụ (nghĩa là cho rằng câu chuyện đời mình là chính yếu và đáng quan tâm nhất, hay thực chất là duy nhất); (2) cho rằng mình tách biệt khỏi thế giới (kiểu như chúng ta chỉ cần biết là đang sống trong đất nước của mình, còn bên ngoài kia chẳng đáng quan tâm), và (3) cho rằng ta bất diệt (cái chết là có thật, nhưng nó chỉ đến với người khác, còn với ta thì không).
Tuy chúng ta không thực sự tin vào những điều mê lầm này – hiểu biết của chúng ta hẳn là sâu sắc hơn thế – nhưng ta vẫn tin vào chúng một cách âm thầm, và để chúng chi phối lối sống của mình, khiến ta luôn ưu tiên nhu cầu của mình cao hơn nhu cầu người khác, mặc dù điều chúng ta vẫn mong muốn trong thâm tâm là cố gắng trở nên bớt ích kỷ, hiểu biết và tỉnh táo hơn, cởi mở hơn, nhân ái hơn.
Do đó, câu hỏi mấu chốt tiếp theo sẽ là: Ta phải LÀM như thế nào? Làm sao để ta trở nên nhân ái, cởi mở, bớt vị kỷ, tỉnh giác hơn, bớt mê lầm hơn, v.v?
Vâng, đó quả là câu hỏi quan trọng.
Nhưng thật không may, tôi chỉ còn lại ba phút [cho bài diễn từ này].
Vậy nên cho phép tôi nói điều này. Có một số cách. Điều ấy hẳn bạn cũng đã biết, vì trong cuộc sống của mình, bạn đã trải qua những lúc Giàu Nhân ái và cả những lúc Kém Nhân ái, và bạn cũng tự biết điều gì giúp mình đến gần với lòng nhân ái hơn. Giáo dục; đắm mình trong một tác phẩm nghệ thuật; nguyện cầu; thiền định; nói chuyện thẳng thắn với một người bạn thân; tham gia vào những truyền thống tâm linh – qua đó ta nhận ra đã có vô vàn những nhà thông thái để lại những câu trả lời cho các câu hỏi mà ngày nay chúng ta thắc mắc.
Tuy nhiên tử tế thực chất là điều khó – ban đầu thì nó dễ dàng, nhưng rồi nó phức tạp và đòi hỏi ở ta đủ thứ.
Nhưng có một điều giúp ích cho chúng ta: đó là việc “trở nên tử tế” có thể xảy ra tự nhiên theo tuổi tác con người. Có thể đơn giản chỉ vì sự mệt mỏi: khi ta già hơn, ta nhận ra sự ích kỷ thật vô ích – hay thật ra là vô lý. Chúng ta trở nên nhân ái và tự xét lại thói vị kỷ của mình. Chúng ta bị cuộc đời vùi dập, rồi được ai đó bảo vệ, giúp đỡ, và học được rằng chúng ta không tách rời nhau, và cũng không muốn tách rời. Chúng ta chứng kiến những người gần gũi thân thiết với mình rơi rụng đi, và dần dần nhận thấy bản thân ta cũng sẽ một ngày phải rơi rụng. Đa số mọi người khi có tuổi đều bớt ích kỷ và nhân ái hơn. Tôi tin chuyện đó là thật. Nhà thơ Hayden Carruth người Syracuse từng nói trong một bài thơ ông viết lúc gần cuối đời, rằng “bây giờ gần như chỉ còn lại Tình Yêu”.
Cho nên, một dự đoán, cũng là lời chúc chân thành của tôi tới các bạn: khi bạn già đi, cái tôi của bạn sẽ nhỏ lại và bạn sẽ trưởng thành lên trong tình yêu. BẠN sẽ dần dần bị thay thế bởi TÌNH YÊU. Nếu bạn có con, đó sẽ là khoảnh khắc to lớn trên tiến trình tự tiêu trừ cái tôi. Bạn sẽ không còn quá chăm lo cho bản thân BẠN, chỉ cần các con bạn được hưởng điều tốt đẹp là được rồi. Đó cũng là lý do phụ huynh của các bạn tự hào và hạnh phúc biết bao trong ngày hôm nay. Một trong những ước mơ trìu mến nhất của họ đã thành hiện thực: đó là bạn đã đạt được một điều khó khăn và bền vững, nó sẽ giúp bạn trở nên một người lớn hơn và sẽ giúp cuộc đời bạn tốt đẹp hơn, từ nay trở đi và mãi mãi - tiện đây, tôi xin chúc mừng các bạn.
Khi còn trẻ, chúng ta thường lo ngại – cũng là điều dễ hiểu – liệu mình có đủ phẩm chất hay không. Chúng ta có thể thành đạt hay không? Liệu ta có thể dựng xây một cuộc sống đầy đủ cho chính mình? Nhưng chúng ta – đặc biệt là các bạn trong thế hệ ngày nay – chợt nhận ra có một vòng lặp trong sự tham vọng. Bạn cố gắng học giỏi trung học, mong sao được vào một trường đại học tốt, để rồi bạn có thể học giỏi đại học, mong sao tìm được một công việc tốt, để rồi bạn có thể làm tốt công việc, đề rồi …
Điều này thực chất là tốt. Nếu chúng ta trở nên tử tế hơn, tiến trình ấy phải bao gồm cả sự nghiêm túc với chính bản thân mình – trong vai trò là một người làm việc, một người thành đạt, một người mơ mộng. Ta phải như vậy, để đạt đến bản thể tốt đẹp nhất của mình.
Thế nhưng sự thành đạt vốn không bền vững. “Thành công”, trong việc gì cũng vậy, luôn khó, và luôn đặt ra cho ta những đòi hỏi mới (thành công giống như một ngọn núi luôn tự vươn cao trong quá trình bạn trèo lên), và có một nguy cơ rất thật là “thành công” sẽ nuốt trọn toàn bộ cuộc đời bạn, trong khi bạn vẫn để ngỏ những câu hỏi lớn lao trong cuộc đời.
Vì vậy, lời khuyên cuối bài diễn từ của tôi cho bạn: vì với cách nhìn của tôi, cuộc đời bạn là một tiến trình dần dần trở nên tử tế và nhân ái hơn, cho nên bạn hãy: nhanh chân lên. Phải khẩn trương. Bắt đầu ngay từ bây giờ. Có một thứ mê lầm trong mỗi người chúng ta, một thứ bệnh tật: sự ích kỷ. Nhưng cũng tồn tại cả phương thuốc giải. Hãy là một bệnh nhân tích cực và chủ động, thậm chí lo lắng một chút vì chính bản thân mình – nỗ lực tìm ra những liều thuốc chống ích kỷ có hiệu quả nhất, cho toàn bộ phần còn lại cuộc đời mình.  
Hãy cứ làm tất cả những đự định khác, những điều to lớn – du lịch, giàu có, trở nên có tên tuổi, sáng tạo, lãnh đạo, yêu đương, kiếm được hay để mất một mớ tiền, hay là cởi truồng bơi trong rừng (sau khi đã kiểm tra và đảm bảo không có phân khỉ)– nhưng đồng thời trong phạm vi khả năng cho phép, hãy hướng mình theo sự tử tế. Làm những điều giúp hướng bạn theo những câu hỏi lớn, và tránh những điều làm bạn nhỏ bé và tầm thường. Phần tỏa sáng trong bạn, nằm sâu hơn cả cá tính – ta có thể gọi là linh hồn – cũng sáng lạn như của bất kỳ ai. Sáng như của Shakespeare, sáng như của Gandhi, sáng như của Mẹ Teresa. Hãy dọn quang mọi thứ ngăn cách bạn với ánh sáng bí mật ấy. Tin rằng nó tồn tại, hiểu về nó nhiều hơn, nuôi dưỡng nó, chia sẻ những quả ngọt của nó một cách không mệt mỏi.
Một ngày kia, 80 năm sau, khi bạn 100 tuổi, còn tôi 134, khi cả hai ta đã tử tế và nhân ái quá mức, hãy viết cho tôi đôi dòng, kể tôi nghe về cuộc đời bạn. Tôi hi vọng bạn sẽ nói: nó quá tuyệt vời.
George Saunders là một nhà văn nổi tiếng, đồng thời là giáo sư Đại học Syracuse ở Mỹ. Ông viết truyện ngắn, tiểu luận, truyện dài, và truyện cho trẻ em, dành được nhiều giải thưởng uy tín

Thanh Xuân
Lược dịch theo New York Times                                                                                           

http://6thfloor.blogs.nytimes.com/2013/07/31/george-saunderss-advice-to-graduates/?_php=true&_type=blogs&_r=1&

Monday, May 5, 2014

Bữa trưa trên thiên đường


Mẹ và con

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More