'Nếu bạn có thể học lái xe được thì bạn cũng có thể học để hạnh phúc được,' Matthieu Ricard, người được các nhà khoa học cho là hạnh phúc nhất trên trái đất.

‘Mọi thứ đều thuộc về chính chúng, chẳng thuộc về ai cả,’ Osho, Ngón tay Chỉ trăng

Tình yêu không phải là đối nghịch của thù hận. Tình yêu là cái toàn thể, và do vậy, nó không có cái đối nghịch!

‘Cuộc sống không chấp nhận đòi hỏi của bất kỳ ai về nó và cứ tiếp tục trôi đi mỗi khoảnh khắc’ Osho, Ngón tay Chỉ trăng

'Bản chất của bạn là hạnh phúc. Ham muốn điều đó chẳng có gì là sai. Sai lầm là ở chỗ đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài trong khi nó ở bên trong,' Ramana Maharshi — 'Happiness is your nature. It is not wrong to desire it. What is wrong is seeking it outside when it is inside.' Ramana Maharshi —

'Không có hạnh phúc nào bằng sự an tĩnh trong tâm hồn! —

Showing posts with label Ý nghĩa cuộc sống. Show all posts
Showing posts with label Ý nghĩa cuộc sống. Show all posts

Tuesday, June 3, 2014

Cuộc đời ngoại hạng của Darshani Deane

Inline image 1
Shirley Deane thời trẻ

Darshani Deane (Shirley deane) là một nhạc sĩ nhạc cổ điển nổi tiếng, đã trình diễn âm nhạc tại 72 quốc gia trên thế giới. 

Bà còn là một trong những phụ nữ đầu tiên có bằng phi công, đã bay nhiều chuyến “solo” qua các lục địa. 

Bà cũng là người đàn bà đầu tiên lái xe hơi du lịch khắp thế giới một mình. Trên đường du lịch, bà sống nhiều năm trên sa mạc miền Trung Đông, xây cất trường học cho trẻ em nghèo tại Phi Châu, soạn thảo cuốn “Africa Who’s Who” đề cập đến những nhân vật đã góp phần xây dựng cho lục địa này.

Bà đã trông nom một trại tỵ nạn dành cho người Tây Tạng tại Nepal và tu nhập thất trên rặng Hy Mã Lạp Sơn. Từ năm 1979, bà dành trọn thời giờ cho việc diễn thuyết và giúp đỡ thính giả của bà tìm được sự thoải mái, an tĩnh trong cuộc sống. 

Darshani Deane là một diễn giả nổi tiếng, đã giúp đỡ nhiều ngưòi trên phương diện tâm linh. Cuộc diễn thuyết nào của bà cũng thu hút rất đông quần chúng, sau buổi nói chuyện bà thường dành thời giờ tiếp xúc với thính giả để thảo luận thêm về những đề tài liên quan đến đời sống cá nhân của họ. Chi tiết cuộc tiếp xúc được ghi nhận và in thành sách dưới tựa đề “Wisdom, Bliss, and Comom Sense” (Tạm dịch : Minh Triết Trong Đời Sống). Cuốn sách này đã giúp nhiều người tìm được sự thoải mái trong đời sống tinh thần và là một trong những cuốn sách tâm linh bán chạy nhất năm 1989. 


Đi khắp thế gian tìm ý nghĩa cuộc sống

Cách đây không lâu, tôi là một nhạc sĩ nổi tiếng trình diễn âm nhạc
khắp thế giới nhưng tôi chưa thỏa mãn với chính mình, hình như tôi
còn muốn một cái gì nữa mà lúc đó tôi chưa ý thức rõ rệt. Tôi lái xe
hơi vòng quanh thế giới, khởi sự từ Âu Châu, qua Trung Đông với ý
định sẽ đi khắp Phi Châu, Á Châu trước khi về Mỹ Châu. 

 
Shirley Deane hiện nay
Cuộc hành trình đưa tôi đến bờ sông Hằng xứ Ấn Độ. Hôm đó tôi dừng chân
trước  đạo viện Sivananda nơi  đạo sư Krishnanandajj  đang giảng
kinh Vệ Đà. Dĩ nhiên tôi chưa bao giờ nghe nói đến kinh Vệ Đà và
cũng chẳng biết vị đạo sư đó là ai. Tôi chỉ muốn chụp vài tấm ảnh

kỷ niệm để làm bằng chứng cho cuộc du lịch của tôi mà thôi. Hôm
đó  đại sư  đã giảng cho học trò về Đại Ngã (Brahman), về cái lý
tưởng tuyệt đối, không thể phân chia của vũ trụ. Vì lý do gì đó, đấu
óc của tôi bỗng  được  đánh thức, tôi ý thức rằng từ trước  đến nay
cuộc đời của tôi chỉ là một giấc ngủ dài không tỉnh. Tôi nghe giảng
một cách say sưa, quên cả thời gian, không gian và lý do cuộc thăm
viếng đạo viện. Điều tôi hằng mong muốn nhưng chưa ý thức được
bỗng hiện lên rõ rệt trong đầu óc của tôi. Tôi quyết định dừng chân
tại đây để học đạo. Năm đó tôi vừa tròn 35 tuổi.

Tôi xuất thân trong một gia đình trung lưu tại thành phố New York.
Cha mẹ tôi tin rằng tôi có năng khiếu âm nhạc nên họ không quản
tốn kém mướn giáo sư kèm riêng cho tôi. Giáo sư của tôi, một nhạc
sĩ nghiêm khắc đã quyết địng rằng tôi phải trở nên một người độc
tấu nhạc cổ đìển, và chỉ nhạc cổ điển mà thôi. Điều này có nghĩa là
tôi không  được chơi các bài nhạc vui như Valse hay hòa tấu với
những học sinh khác. Qua âm nhạc, tôi nhận thức  được một sức
sống mạnh mẽ tiềm tàng trong mình và khám phá rằng tôi có nhiều
nhiệt thành với cuộc sống, lúc nào tôi cũng muốn vươn lên nắm bắt
lấy một cái gì mặc dù lúc đó tôi không rõ mình thực sự muốn gỉ.


Không như những thiếu nữ cùng lứa tuổi, tôi tin rằng hạnh phúc chỉ
có thể tìm thấy trong sự thành công nghề nghiệp, danh vọng và
“sống cho ra sống” chớ không phải ràng buộc trong những giới hạn
hôn nhân. Trong thời gian học tại đại học tuy quen biết nhiều ngưòi
nhưng không bao giờ tôi muốn bị lệ thuộc vào bất cứ ai.

Đời sống đối với tôi là một khu rừng đấy hoa thơm cỏ lạ với những
buồi trình diễn trên  đài phát thanh, đài truyền hình, trên sân khấu
những hộp  đêm sang trọng tại New York, Chicago, Paris, London
v.v…Tôi đã trình diễn trên du thuyền của những vương tôn công tử
hào hoa phong nhã. Giao thiệp với những người đàn ông từng trải,
chín chắn. Nhiều người ngỏ lời cầu hôn và hứa hẹn một  đời sống
thoải mái cho tương lai nhưng tôi chỉ muốn tự do làm tất cả những
gì mình muốn và tôi vẫn còn muốn nhiều thứ lắm.

Nghề nghiệp đưa tôi vào nhiều chuyến du lịch đầy hứng thú từ Âu
qua Á, từ những  đô thị  đông  đúc  ở Á Châu  đến những làng mạc
hoang vu tại Phi Châu. Tuy nhiên tôi không muốn là nhạc sĩ thuần
túy mà phải nhiều hơn thế nữa.

Tôi học lái phi cơ và trở thành một phi công có hạng. Tôi bay
“solo” nhiều chuyến từ đô thị này qua đô thị khác. Tôi đã vẫy vùng
trên không trung như một cánh chim giang hồ và đạt nhiều kỷ lục
đáng kể. Khi đó số phụ nữ có bằng phi cơ còn hiếm nên tôi đã trở
thành đề tài cho nhiều câu chuyện thời sự.

Tôi ham thích chơi cờ “Chess”, ngoài việc giải trí thanh nhã nó còn
là môi trường để thử thách cá tính con người. Tôi đã tranh giải trong
các hội quán quốc tế và hạ nhiều cao thủ xuất sắc. Trong các danh
thủ môn cờ này, rất ít người thuộc phái nữ nên tên tuổi của tôi còn
lẫy lừng hơn nữa nhưng đối với tôi nó vẫn chưa đủ, tôi chẳng bao
giờ cảm thấy thỏa mãn cả, tôi còn muốn nhiều hơn nữa kìa…


Tôi ký hợp đồng trình diễn tại Phi Châu và lang thang nhiều năm
trên lục  địa nắng cháy này. Tôi sống trên một du thuyền lộng lẫy
chạy dọc theo sông Nile suốt sáu tháng liền, nhưng rồi cuộc sống
vương gỉa làm tôi thấy nhàm chán. Tôi tìm đến một làng hẻo lánh,
sống chung với những nông dân trồng trọt rau trái. Tại đây tôi học
được bài học về sự hy sinh, nhẫn nại, lòng gắn bó chặt chẽ vào đất
đai để biến mảnh đất sa mạc khô cằn thành những đồn điền trù phú
nhưng không hiểu sao tôi không thấy mình gắn bó vào đâu cả.

Tôi trở lại Âu Châu trình diễn âm nhạc một thời gian, lòng phiên
lưu thúc đẩy, tôi mua một chiếc xe jeep để du lịch vòng quanh thế
giới. Hầu như bất cứ nơi nào ghé qua, tôi cũng bị bao vây bởi rừng
phóng viên, ký giả tò mò muốn tìm hiểu người phụ nữ đầu tiên dám
du lịch thế giới bằng xe hơi một mình. Cuộc du hành đưa tôi qua Phi
Châu, Trung Đông và rồi Á Châu. Tôi đi dọc theo rặng Hy Mã Lạp
Sơn hiểm trở để vào đồng bằng xứ Ấn, cho đến một hôm dừng chân
bên bờ sông Hằng và nghe nói đến danh từ Đại Ngã ( Brahman). Trí
óc của tôi bị thúc động mạnh mẽ, hình như tôi đã tìm được điều tôi
muốn, tôi quyết  định dừng chân nơi  đây học  đạo với Swami
Krishnanandaji.

Tôi học hỏi ý nghĩa kinh Vệ  Đà và chú trọng nhiều  đến bộ
Upanishads. Với tấm lòng cương quyết có  được kinh nghiệm tâm
linh, tôi  đã nhập thất thiền  định nhiều năm trên rặng Hy Mã Lạp
Sơn. Một hôm thấy trong lòng ngây ngất rạo rực bởi một cảm giác
an tĩnh lạ thường, tôi vội báo tin cho thầy tôi biết rằng “Nếu tiếp tục
cố gắng khoảng sáu tháng nữa tôi có thể giác ngộ”. Thầy tôi không
nói gì chỉ lắc đầu rồi yêu cầu tôi trở lại động đá suy gẫm thật kỹ về
một đề tài của kinh Vệ Đà: “Khiêm tốn là bước đầu của tất cả sự tiến
bộ”. Sau khi suy gẫm kỹ lưỡng về đề tài trên, tôi ý thức rằng  người
ta không thể tự hào với một công phu nhỏ bé như thế được, tôi bèn
cương quyết nhập thất trọn đời. Tôi báo tin cho thầy tôi biết rằng “
Tôi sẽ từ bỏ thế gian này để thực hành thiền định cho đến khi chết”.
Một lần nữa thầy tôi lắc đầu và nói rằng: ‘Tại sao con lại nghĩ rằng
con có thể từ bỏ thế gian này hoặc thế gian này sẽ từ bỏ con? Hãy
suy gẫm thêm nữa về sự liên hệ giữa cá nhân và thế giới”. Thế là tôi
lại chui vào động đá để suy gẫm thêm.

Mùa mưa đến với rắn rết, côn trùng bò đầy vào trong hang nhưng
tôi vẫn không sờn lòng, tôi ao ước có  được kinh nghiệm tâm linh
trước khi giấy thông hành của tôi hết hạn. Tuy nhiên thời gian là một
thử thách lớn, sau mấy năm nhập thất mà vẫn chưa kinh nghiệm
được  điều tôi muốn, lòng phiên lưu mạo hiểm thúc dục tôi lên
đường. Tôi muốn biết ngoài giáo lý Vệ Đà còn có những giáo lý nào
khác nữa hay không? Biết đâu tôi chẳng học hỏi thêm được đìều gì
hay ho hơn nữa? Biết đâu tôi chẳng tìm được một giáo lý nào thích
hợp với tôi hơn, thế là tôi từ gĩa động đá đi Katmandu.

Tôi dừng chân trước một trại tỵ nạn dành cho người Tây Tạng. Sự
kiện những người dân hiền lành, chất phát phải bỏ mảnh  đất quê
hương tìm tự do làm tôi xúc động. Hơn lúc nào hết tôi ý thức rõ rệt
về sự liên hệ giữa cá nhân tôi và thế giới bên ngoài, tôi lập tức tình
nguyện làm quản lý trại tỵ nạn này. Tôi thành lập trường học,
thiếtlập trạm y tế, họp báo kêu gọi thế giới ý thức về tình trạng cai
trị hà khắc của Trung Cộng. Tôi nghĩ rằng nhờ công tác xã hội này
tôi sẽ tìm được đìều tôi muốn cái gì, đời sống đối với tôi bỗng trở
nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Hằng ngày tôi thường lái xe chuyên chở thực phẩm cho trại tỵ nạn
qua những đường đèo nhỏ hẹp trên rặng Tuyết Sơn. Tôi nhìn thấy
hằng trăm xác xe hơi dưới đáy thung lũng, chỉ một lơ đãng cả người
và xe đều rơi xuống vực sâu. Hơn lúc nào hết sự chết bắt đầu ám ảnh
tâm trí tôi. Tôi nghĩ nhiều về sự chết, về đời sống và bắt đầu sợ hãi. 

Tôi vừa lái xe vừa cầu nguyện, đôi khi tôi còn đọc những bài thần
chú Tây Tạng nữa. Không ai muốn chêt trước khi được một quyền
năng nào đó “bảo đảm“ cho.

Vì công việc xã hội tôi quen biết linh mục Moran và Hòa Thượng
Serkong Rimpochen. Tôi than thở với hai vị này rằng “ Khi xưa tôi
vẫn nghĩ đời sống là một cái gì đẹp đẽ nhưng hiện nay tôi lại thấy
đời sống sao đầy những khó khăn, không sao thoải mái được”. Cả
hai khuyên tôi phải có một thái độ với cuộc sống. Linh Mục Moran
khuyên tôi cầu nguyện Thượng Đế nhiều lần trong ngày. Hòa
Thượng Serkong khuyến khích áp dụng một kỷ luật chặt chẽ  để
kiểm soát thân và tâm. Tuy nhiên tôi không giữ được điều gì vì đấu
óc của tôi lúc  đó cứ bị dầy vò, xung  đột bởi một cảm giác trống
rỗng, thiếu thốn, không thể diễn tả.

Ít lâu sau tôi trở lại  đạo viện Sivananda khóc lóc với  đạo sư
Krishnanandaji:” Con không thể sống với cái thế giới đầy phiền não
này được nữa, con quyết định nhập thất thiền định cho đến khi đạt
được kinh nghiệm tâm linh. Con không muốn du lịch hay làm công
việc xã hội nữa mà chỉ ao ước kinh nghiệm của Thượng Đế mà thôi.
Từ nay con nhất quyết đoạn tuyệt với thế giới bên ngoài.”

Một lần nữa đạo sư Krishnanandaji lại lắc đầu nói rằng: “Tại sao
con lại nghĩ mình có thể từ bỏ thế giới này? Thượng Đế và thế giới
này đâu phải hai phần cách biệt, hãy tập trung tư tưởng để suy gẫm
thật kỹ về  đề tài này”. Từ  đó bên dòng nước sông Hằng, tôi  đắm
mình vào việc thiền  định, suy gẫm về cuộc  đời  đã qua của mình.
Cho đến lúc đó tôi mới hiểu được rằng cuộc sống “ thiếu ý thức” của 
tôi khi trước chỉ là những gì chập chờn như giấc mộng. Tuy hiểu
được vậy nhưng tôi vẫn chưa biết cách sống làm sao cho thoải mái
để tìm sự an tĩnh trong nội tâm.

Sau một thời gian thiền định, quán tưởng, lòng phiên lưu mạo hiểm
lại thúc dục tôi lên đường. Tôi tự nhủ biết đâu tôi chẳng học hỏi điều
gì hay ho hơn nữa? Tôi qua Nga Sô, Đông Âu và Tây Âu trình diễn
âm nhạc và dừng chân ở một làng nhỏ nước Ý. Tại đây tôi gặp Linh
Mục Padre Pio, một người mà trên thân thể có những bí tích (những
dấu vết đóng đinh giống như Chúa Giê Su, mỗi năm cứ đến thời gian
trước lễ Phục Sinh thì những vết thương đó lại chảy máu một cách
kỳ lạ). 
Tôi được Linh Mục Pio chỉ dẫn rất nhiều về giáo lý bí truyền chỉ
phổ biến trong những dòng tu kín. Sống gần Linh Mục tôi kinh
nghiệm được một sự bình an lạ lùng, mỗi khi Ngài giơ tay ban phép
lành thì tôi lại thấy trong người dào dạt một cảm giác bình an vô
hạn. Hàng ngày tôi tham dự khóa lễ tại nhà thờ San Giovani, lòng
yêu thương sùng kính của tôi đối với đấng Christ gia tăng mãnh liệt.
Tôi muốn gia nhập dòng tu kín, trở nên một nữ tu dành trọn cuộc đời
cầu nguyện Thiên Chúa nhưng tôi vẫn ngần ngại vì không quên cái ý
thức về  Đại Ngã (Brahman) và những kinh nghiệm thu thập bên
dòng sông Hằng. Tôi cảm thấy trong người bị xâu xé bởi một cảm
giác mâu thuẫn. Một mặt muốn quay về với triết lý phương Đông
nhưng mặt khác tôi lại thấy thoải mái với lối giải thích của thần học
Tây Phương. Ít lâu sau tôi nhận lời mời của giáo sư John Bennett qua Luân Đôn
nghiên cứu công trình còn lại của Gurdjieff, một triết gia kiêm nhạc
sĩ nổi tiếng . Gurdjieff đã dung hòa được tư tưởng Đông và Tây qua
những lời khuyên hết sức thực tế, ngoài ra ông cũng là một nhạc sĩ
nên tôi nghĩ rằng một nhạc sĩ tôi có thể thông cảm với nhạc sĩ hơn. 

Tôi chuyên tâm nghiên cứu công trình của Gurdjieff, một hôm đang
đi bộ trên đường Oxford, tôi bỗng ý thức được một cảm giác tự do
kỳ lạ, tôi không còn thấy mình là mình nữa mà cứ lâng lâng như
được nâng lên một bình diện nào đó cao hơn. Tôi ngây ngất một lúc
rất lâu và ý thức được điều Gurdjieff vẫn nói :” Sự ý thức toàn vẹn
về sự sống.”

Tôi kể cho giáo sư Bennett nghe về kinh nghiệm này và ngỏ ý
muốn tìm một nơi yên tĩnh để suy gẫm thêm. Giáo sư Bennett không
đồng ý, ông nói:” Tách ra khỏi đời sống không phải điều Gurdjieff
chủ trương, sống và ý thức sự sống, ý thức sự chuyển hóa của mình
với đời sống mới là điều quan trọng.” Tôi không đồng ý với giáo sư
Bennett, đầu óc của tôi vẫn khăng khăng nghĩ rằng tôi có thể tìm đến
nơi chốn nào để sống trọn vẹn với cái cảm giác bình an đó mãi. Tôi
tìm đến một tu viện hẻo lánh ở Phi Châu, và tôi tuyên bố với tu sĩ
trưởng: “Tôi đến đây để tìm sự yên tĩnh, để suy gẫm, để nghiên cứu,
để kinh nghiệm…” Trước khi tôi có dịp nói hết lời thì tu sĩ này đã
lạnh lùng ngắt lời : “Muốn sống tại đây ai cũng phải làm việc. Tôi
giao cho bà một số văn kiện, giấy tờ, bà có bổn phận sao lục ra làm
nhiều bản, gửi đến địa chỉ trong danh sách này. Yêu cầu bà làm việc
ngay vì đây đều là những thư khẩn cả”.

Thế là tôi thấy mình “  è  “ cổ ra sao lục những văn kiện, giấy tờ.
Lúc đó không có máy Photocopy, không có máy điện toán như hiện
nay nên mọi việc đều phải làm bằng tay. Khi tôi trình lên tu sĩ xấp
văn thư dầy cộm, ông này liếc qua mấy hàng và phê bình ngay: “ Bà
làm việc cẩu thả, chữ viết nghiêng ngả, những con tem dán không
thẳng hàng. Yêu cầu bà hãy làm lại, bà hãy ngâm những con tem
vào nước, bóc ra rồi dán lại cho thật ngay hàng thẳng lối. Tuyệt đối
không được phí phạm một thứ gì vì phong bì, giấy tờ và những con
tem đều tốn kém, phí phạm nó sẽ gây thiệt hại cho ngân quỹ nơi đây.
Yêu cầu bà làm việc cho thật nghiêm chỉnh vì đó là đường lối tại
đây, nếu không được như thế xin bà rời nơi này ngay lập tức.”
Tôi không thể tin rằng một người mang danh tu sĩ lại ăn nói lạnh
lùng, bất lịch sự như vậy. Từ trước đến nay tôi là người nổi tiếng, đi
đâu cũng được kính trọng, nể vì, không ai ăn nói hỗn xược như vậy
với tôi nhưng rồi tôi cũng dẹp bỏ tự ái, cắn răng hoàn tất công việc
giao phó. Đến khi đó vị tu sĩ mới dịu giọng hỏi tôi: “ Thưa bà bà
muốn học hỏi điều chi? “Tôi nói ngay mà không cần suy nghĩ : “ 

Tôi muốn được kinh nghiệm với đấng Vô Cùng”. Vừa nghe vậy, tu
sĩ đã lạnh lùng: “ Thế thì bà đi lầm chỗ rồi, tại đây chúng tôi chỉ chủ
trương ý thức tất cả mọi hành  động và hoàn hảo trong mọi hành
động mà thôi.” Tôi sững sờ một lúc nhưng rồi quyết định sống tại đó
một thời gian xem sao vì biết đâu tôi chẳng học hỏi thêm được điều
gì chăng?

Ngày tháng trôi qua, tôi bị ép buộc phải làm nhiều việc một cách vô
cùng cực nhọc. Tôi dậy sớm quét nhà, lau dọn, chùi cầu tiêu và tất
cả mọi việc lao động trong tu viện thế mà còn bị chỉ trích và phê
bình đủ thứ. Hình như người ta cố tình áp dụng  “Kỷ Luật Sắt” riêng
cho tôi. Dù tôi làm việc tốt đến đâu người ta cũng có thể tìm cách
chê trách  được, dĩ nhiên lúc  đầu tự ái của tôi bị va chạm mạnh
nhưng rồi sau cũng quen đi. Điều tôi không ngờ là cái bản ngã tự
cao tự đại, đầy kiêu căng phách lối của tôi nhờ thế mà cũng giảm
dần theo thời gian. Cái cảm giác thiếu thốn khó chịu cũng theo đó
mà biến mất, tôi bắt đầu cảm thấy thoải mái với chính mình nhiều
hơn. Khi biết thoải mái với mình thì người ta bắt đầu nghĩ đến người
khác và tôi đã suy nghĩ nhiều về mối liên hệ giữa cá nhân và xã hội.
Tôi thấy từ trước đến nay tôi sống một cách ích kỷ quá. Do đó, khi
một phái đoàn truyền giáo đi ngang, tôi vội tháp tùng theo họ đến
Nam Phi. Tại đây tôi dồn sức ra làm việc xã hội, mở trường học, lập
trạm y tế, sống trong những làng mạc của người da đen.

Công việc hoạt động này giúp tôi có cơ hội tiếp xúc với nhiều nhân
vật quan trọng của Phi Châu. Tôi thấy người ta đã cố tình loại bỏ tên
tuổi những người da đen trong các công trình xây dựng quan trọng
tại đây. Cuốn niên giám nhân vật Phi Châu” Who’s who in Africa”
không hề đề cập đến bất cứ một người da màu nào.

Sự bất công, kỳ thị chủng tộc của người da trắng  đã thúc đẩy tôi
phải làm một cái gì. Tôi bỏ thời giờ nghiên cứu  để xuất bản một
cuốn niên giám nhân vật khác. Lúc đầu tôi nghĩ nó chỉ mất khoảng
sáu tháng là nhiều, sau đó tôi sẽ tìm về một làng mạc hẻo lánh để 
tiếp tục công tác xã hội và thiền định, nhưng sáu tháng lại biến thành
bốn năm. Công trình nghiên cứu cuốn niên giám nhân vật đòi hỏi
một sự kiên nhẫn, bền chí và cương quyết trong môi trường mà sự
kỳ thị chủng tộc và nỗi bất công là việc đương nhiên. Cho đến khi
đó tôi mới ý thức được sự lợi ích của thời gian sống trong kỷ luật
tuyệt đối tại tu viện kia. Thời gian làm việc tại Phi Châu giúp tôi ý
thức gía trị của cuộc sống và hiểu biết về chính tôi nhiều hơn.

Tôi biết cách sống một cách thoải mái, bình dị và quyết định Phi
Châu là quê hương thứ hai của tôi.

Để nghiên cứu làm cuốn niên giám nhân vật, tôi  đã du lịch qua
nhiều làng mạc, quốc gia tại Phi Châu. Một người Phù Thủy đã nói “
Bà sẽ trở nên một giáo sư và có rất nhiều học trò”. Tôi không tin
những điều tiên đoàn vu vơ nên gạt đi viện lẽ tôi không hề có bằng
cấp giáo dục và cũng không có ý  định mở trường dậy dỗ ai hết
nhưng ông này nhấn mạnh “ Quá nhiều người không ý thức  được
đìều họ làm và cần giúp đỡ. Thế giới này thiếu gì người có bằng cấp
nhưng nếu họ không ý thức được chính họ thì làm sao họ có thể giúp
đỡ hay dậy dỗ ai? Bà có nhiều kinh nghiệm cá nhân và nên chia sẻ
điều này với người khác.”

Tôi không  để ý  đến lời khuyên của ông này nhưng sau khi cuốn
sách được xuất bản, tôi được nhiều nơi mời diễn thuyết và một bất
ngờ xảy ra. Đa số thính giả chỉ muốn nghe tôi nói về những kinh
nghiệm cá nhân của tôi hơn là tiểu sử nhân vật mà tôi ghi chép trong
cuốn niên giám nhân vật. Chỉ ít lâu sau người ta chính thức mời tôi
diễn thuyết về những kinh nghiệm tâm linh này thay vì những đề tài
khác. Số thính giả mỗi ngày một đông, nhiều người cho biết họ tìm
được sự thoải mái sau khi áp dụng những phương pháp mà tôi đề
xướng.

Ít lâu sau tôi gặp lại người phù thủy nọ. Lần này ông ta cho biết “Bà
sẽ rời Phi Châu đi diễn thuyết khắp nơi trên thế giới, bà sẽ giúp đỡ
nhiều người hơn nữa…” Tuy bán tín bán nghi nhưng tôi đã trả lời :
“Tôi chán du lịch lắm rồi, tôi chỉ muốn sống yên  ổn tại  đây thôi.
Không ai có thể bắt tôi đi đâu nữa.” Người Phù Thủy thản nhiên nói
: “Điều bà muốn và điều Ngài muốn có thể không giống nhau nhưng
rồi bà sẽ học được điều cần phải học.” 
Để chắc  ăn tôi cho đi tất cả những quần áo, hành trang và cương
quyết không đi đâu nữa. Vài tháng sau tôi được mời nói chuyện tại
câu lạc bộ phụ nữ  ở New York. Tôi nghĩ thầm dự một buổi diễn
thuyết ngắn ngủi về phong tục và văn hoá Phi Châu rồi trở về đây
ngay thì  ăn nhằm gì. Thế là tôi thu xếp hành trang lên đường qua
Hoa Kỳ.

Khi  đến New York tôi  được biết  đạo sư Baba Muktananda cũng
đang diễn thuyết ở đó. Tôi đã nghe nhiều người nói về ông này khi
còn ở Ấn Độ nên nhủ thầm đây quả là dịp may hãn hữu vì BIẾT
ĐÂU TÔI CHẲNG HỌC THÊM ĐƯỢC MỘT ĐIỀU GÌ HAY
CHĂNG?
Tôi ngồi trên hàng ghế đầu nghe Baba Muktananda diễn thuyết về
những kinh nghiệm tâm linh. Tôi băn khoăn tự hỏi “Tại sao trải qua
bao công phu tu tập, thiền định và quán tưởng mà tôi vẫn chưa có
được kinh nghiệm tâm linh nào?” Đang diễn thuyết  đạo sư Baba
bỗng ngưng nói nhìn thẳng vào chỗ tôi và thong thả nói:
•  Này chị kia, chị chưa kinh nghiệm  được gì vì chị còn ích kỷ,
tham lam và có nhiều ràng buộc quá
•  Tuy giật mình nhưng là một phụ nữ quen hoạt động, tôi đã trấn
tỉnh ngay:
•  Ông nói tôi ư? Tôi có nhiều ràng buộc sao?
Baba thản nhiên:
•  Đúng thế, nếu không tin chị hãy nhìn vào ví của chị mà xem.
•  Tôi lục chiếc ví nhỏ, ngoài các đồ dùng cá nhân lặt vặt trong ví
chỉ có mỗi chiếc vé phi cơ về Phi Châu ngày hôm sau thôi. Dĩ
nhiên tôi phải trở về Phi Châu…Ngay lúc đó một ý nghĩ nổi lên
trong đầu óc. Tôi run giọng:
•  Ông muốn nói người ta có thể bị ràng buộc vào một quốc gia,
một lục địa, một lý tưởng hay một con chó. Nếu người ta cứ mải
miết suy nghĩ về những điều mình muốn nhiều hơn suy gẫm về
những điều cao thượng khác.
•  Quả thế, thời gian gần đây tôi thường nghĩ đến Phi Châu, nghĩ
đến những công trình mà tôi đã xây dựng tại đây, nghĩ đến những
làng mạc hẻo lánh, những người dân quê chất phát hồn nhiên,
những nơi chốn mà tôi  đã cải thiện  được và cảm thấy hết sức
hãnh diện nhưng tôi không bao giờ nghĩ mình lại bị ràng buộc
vào đó. Không hiều sao Baba đọc được ý tưởng thầm kín của tôi,
ông nói luôn:
•  Chị không nghĩ chị bị ràng buộc hay sao? Nếu vậy chị nghĩ sao
khi phải từ bỏ tất cả những nơi đó để sống tại Hoa Kỳ?
•  Sống tại Hoa Kỳ  ư? Không bao giờ! Không  đời nào tôi muốn
sống tại nơi mà những giá trị vật chật như tiền bạc, danh vọng
được đề cao như giá trị tối thượng. Không đời nào tôi muốn chui
rúc vào những phiền toái của đời sống mà tôi đang cố gắng thoát
ra. Tôi đã đoạn tuyệt với nó từ lâu rồi kia mà. Một lần nữa Baba
nói lớn:
•  Này chị kia, chính những  điều mà chị muốn tránh né  đã ràng
buộc chị vào những điều khác. Chị không thể trốn chạy mãi như
thế  được, chị có muốn thực sự kinh nghiệm những  điều cao
thượng tốt lành không? Tôi im lặng, câu nói của Baba như có
một sức mạnh phá tung tất cả quan niệm từ trước đến nay của tôi.
Tôi ngồi im, sững sờ nhưng trong  đầu của tôi cả là bãi chiến
trường. Sau cùng tôi mở ví, rút tấm vé phi cơ đưa cho Baba. Ông
cầm tấm vé phi cơ trên tay và thong thả nói riêng với tôi:
•  Chị có chắc chị sẽ làm như vậy không?
Tôi biết ông ta ám chỉ điều gì. Tôi nói qua hàng lệ:
•  Thưa có, tôi muốn kinh nghiệm của Thượng Đế.

Tôi không trở lại Phi Châu nữa mà tìm đến một khách sạn nhỏ gần
đó tập trung công phu vào việc thiền định và suy gẫm về sự tự do
tuyệt đối, về sự cởi bỏ ràng buộc. Tôi không còn nghĩ đến điều mình
muốn nữa, không còn nghĩ  đến quá khứ,  đến những phiền toái,
những điều mà tôi muốn xa lánh. Tôi chỉ chuyên tâm suy nghĩ về
những điều cao thượng tốt lành. Từ khi ý thức được điều này, công
phu thiền định của tôi tăng tiến rõ rệt, tôi cảm thấy như được che
chở trong một luồng từ điện yên tĩnh an lành nào đó. Nhưng rồi một
vọng niệm lại nẩy sinh trong đầu óc tôi, tôi ao ước sẻ an trú trong
trạng thái an lạc này mãi mãi. Ý tưởng đó vừa nảy sinh tôi đã hối
hận nhưng đã muộn, chỉ vài giờ sau, người chủ khách sạn đã đến đập cửa  đòi tiền và tôi khám phá rằng tôi  đã tiêu sạch số tiền dự trữ
mang theo.

Để kiếm sống, tôi đành trở lại việc diễn thuyết về đề tài tâm linh. Số
thính giả mỗi ngày một đông nhưng tôi vẫn không quên trạng thái an
lạc kinh nghiệm được trong khi thiền định. Tôi mong có thể tìm một
nơi chốn vắng vẻ, yên tĩnh để an trú trong trạng thái an bình đó. 
Cơ hội đã đến khi một người bạn cho biết anh có một căn nhà nghỉ
mát nhỏ nằm sâu trong rừng, nếu muốn, tôi có thể sống tại đó mà
không phải trả tiền thuê mướn chi hết. Căn nhà này không có những
tiện nghi như điện, nước hay lò sưởi vì chủ nhân chỉ tạm trú mỗi khi
săn bắn mà thôi. Tôi vội vã chụp ngay cơ hội hiếm có này.
Đời sống tại đây không dể dàng như tôi nghĩ, hàng ngày tôi phải
gánh nước từ một dòng suối nằm sâu dưới đáy thung lũng lên nhà.
Tuy nhiên tôi học cách ý thức từng cử chỉ và hành động của mình và
tìm sự bình an trong mọi hành động. Tôi thoải mái khi giặt giũ quần 
áo dưới suối, khi nấu ăn, khi lau nhà và việc tu thiền của tôi càng
ngày càng tiến bộ. Tôi nhủ thầm sẽ không đi đâu nữa vì tôi đã tìm
được một nơi trú ẩn thoải mái, đã tìm được điều ao ước từ bao lâu
nay. Nếu những bực đã chứng ngộ đều đạt đạo tại những nơi hoang
vu cô tịch thì biết đâu điều đó lại chẳng xảy ra cho tôi?
Một ngày mùa đông, thời tiết lạnh giá, chỉ trong thoáng giây nhiệt
độ trong nhà đã sụt xuống đến mức khủng khiếp. Chiếc lò sưởi xách
tay nhỏ tự nhiên không chạy nữa mặc dù nó vẫn còn đủ dầu hôi. Tôi
mặc tất cả quần áo vào mình để chống lạnh và thực tập phưong pháp
Yoga về Nhiệt Công. Không hiểu vì lý do nào mà mọi ngày tôi có
thể chịu  đựng  được thời tiết giá lạnh nhưng lần này lại khác, một
luồng hơi lạnh ở đâu thấm vào cơ thể khiến chân tay tôi đông cứng.
Tôi cố gắng tập trung tư tưởng để thiền định, mọi khi tôi có thể nhập
thiền dễ dàng nhưng hôm nay người tôi cứ run lên vì lạnh. Tôi cố
gắng làm tất cả những gì tôi biết để chống lạnh nhưng vô hiệu, hơi
lạnh như muôn ngàn con dao sắc bén đâm sâu vào da thịt. Tôi bắt
đầu lo sợ, từ đây ra đến làng gần nhất cũng phải mất hơn mười cây
số, mười cây số đường bộ trong cái lạnh kinh hồn này quả là một thử
thách vô cùng lớn lao.

Đến gần sáng không thể chịu đựng được nữa tôi đành thu thập hành
trang lên đường. Tôi run rẩy bước đi trong làn gió bấc rét căm căm,
toàn thân tôi như bị đông cứng trong cái lạnh kinh hồn. Tuyệt nhiên
không một tiếng  động nào mà chỉ có tiếng chân lê bưóc trên con
đường mòn nhỏ phủ đầy tuyết trắng.

Ba giờ sau, tôi dừng chân trước quán ăn ở đầu làng, chưa bao giờ
mùi cà phê nóng lại có thể quyến rũ tôi đến thế. Ánh đèn điện sáng
choang, tiếng người nói ồn ào, mùi xào nấu thơm phức… Hơn lúc
nào hết, tôi ý thức ngay một cảm giác hoan hỷ khi được trở lại với
cái thế giới mà tôi vẫn muốn từ bỏ nó. Tôi ngồi trên chiếc ghế bành
ấm áp của nhà hàng và ý thức rằng. “ Tôi đã làm tất cả những gì có
thể làm để từ bỏ thế gian vì tôi nghĩ thế gian này và tôi là hai thực
thể tách biệt. Cho đến lúc đó tôi mới ý thức rằng tôi chinh là một
phần của thế gian này và vì là một phần của nó, tôi không thể tách
riêng ra được. Chính sự ham muốn đã thúc đẩy tôi đi tìm tất cả, kể
cả những kinh nghiệm tâm linh, nhưng trải qua nhiều biến cố rời rạc
tôi mới thấy rõ một sự liên hệ, gắn bó, có ý nghĩa vô cùng. Tôi đã
học được bài học mà tôi phải học.”

Tôi trở lại với công việc diễn thuyết, số khán giả mỗi ngày một
đông hơn trước. Điều tôi kinh nghiệm  được trong buổi sáng mùa
đông hôm đó đã dậy cho tôi một bài học vô cùng quí giá. Thật ra
những điều này tôi vẩn biết qua sách vở, kinh điển, qua sự dậy dỗ
của các đạo sư nhưng tôi chưa thực sự kinh nghiệm được nó, ý thức
được nó. 
CÓ LẼ CHÚNG TA KHÔNG HỌC  ĐƯỢC BÀI HỌC MÀ
CHÚNG TA PHẢI HỌC NÊN CHÚNG TA CỨ PHẢI HỌC ĐI,
HỌC LẠI MÃI CHO ĐẾN KHI NÀO THỰC SỰ HỌC ĐIỀU
PHẢI HỌC VÌ ĐỜI SỐNG TỰ NÓ VỐN KHÔNG CÓ TÍNH
CÁCH CÁ NHÂN. 

KHI CẦN PHẢI TĨNH TÂM TRONG SỰ
CÔ TỊCH THÌ HOÀN CẢNH SẼ ĐẾN VỚI CHÚNG TA, KHI
CẦN HÀNH  ĐỘNG THÌ HOÀN CẢNH SẼ THÚC GIỤC
CHÚNG TA HOẠT ĐỘNG. 

TẤT CẢ MỌI SỰ MONG CẦU, AO ƯỚC, DÙ LÀ AO ƯỚC MỘT SỰ BÌNH AN CŨNG ĐỀU
LÀ NHỮNG VỌNG NIỆM VÀ NẾU LÀ NHỮNG VỌNG NIỆM
NÓ CẦN PHẢI LOẠI TRỪ.


Nguồn: Lời giới thiệu cuốn sách minh triết trong đời sống hàng ngày, Darshani Deane (Shirley Deane)


Đọc sách
http://www.wattpad.com/347601-minh-tri%E1%BA%BFt-trong-%C4%91%E1%BB%9Di-s%E1%BB%91ng?p=14#!p=1 

Photos and more stories about her

Friday, May 23, 2014

TRÒ CHUYỆN VỚI BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC


Chân dung tự họa--
VHPG: Có một Đỗ Hồng Ngọc là người viết văn, làm thơ, có một Đỗ Hồng Ngọc là người viết về Phật học, có một Đỗ Hồng Ngọc là bác sĩ và cũng là nhà tư vấn tâm lý và sức khỏe cho tuổi mới lớn, doanh nhân, người già… được nhiều người quý mến. Với anh, anh tự nhìn nhận về mình như thế nào?
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (BS. ĐHN): Tất cả những “con người” đó đều hòa nhập trong tôi, không có gì phân biệt. Khi còn trẻ, đậu xong Tú Tài II, tôi phân vân không biết nên đi vào Văn khoa để… làm một nhà văn hay vào Sư phạm để làm một nhà giáo, hay  học Y khoa để làm bác sĩ. Tôi cảm thấy mình không thể chuyên vào một cái gì hẳn. Chính học giả Nguyễn Hiến Lê là người đã khuyên tôi nên học y khoa. Ông nói học y khoa mà giỏi thì sau này có thể đi giảng dạy được, rồi hành nghề nhiều năm, tiếp xúc nhiều cảnh đời, lại có tâm hồn thì có thể viết lách được. Tôi thi vào y khoa, đồng thời ghi danh học Văn khoa, và sau này còn học cả Xã hội học ở Đại học Vạn Hạnh. Tóm lại, tôi đã thực hiện được ước mơ thưở nhỏ của mình là vừa làm nghề y, vừa đi dạy, vừa viết lách…
VHPG: Anh nghĩ gì khi được nhiều độc giả yêu mến như thế?
BS. ĐHN: Có lẽ do cách viết của mình. Tôi chỉ viết những gì mình thực sự trải nghiệm. Viết là cách chia sẻ kinh nghiệm chứ không phải từ sách vở mà ra.  Khi viết, tôi luôn tưởng tượng như có độc giả đang ở trước mặt mình và đang trò chuyện với mình.. Có lẽ kiểu viết như thế làm cho người đọc cảm nhận được người viết và độc giả có sự gần gủi, chia sẻ, trao đồi một cách chân thành với nhau, không kiểu cách, xa lạ. Khi viết cuốn “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” chẳng hạn, cuốn sách đầu tay của tôi được in năm 1972 – Lá Bối phát hành- thì lúc đó tôi mới ra trường được 3 năm. Tôi thấy tuổi học trò là lứa tuổi bơ vơ, đang thiếu thốn một không gian riêng của mình  trong khi ở nước ngoài, người ta có hẳn chuyên khoa dành cho tuổi mới lớn, còn ở Việt Nam mình thì chưa, nên tôi bắt tay vào nghiên cứu và viết. Lúc đó, tôi nghĩ phải viết ngay, chứ không sợ sau này lớn sẽ quên đi! Khi viết, tôi nghĩ mình đang nói chuyện trực tiếp cùng các em. Cuốn sách đó đã được độc giả thời bấy giờ rất hoan nghênh. Khi có kinh nghiệm chăm sóc mấy nhóc nhỏ ở nhà, tôi lại viết cuốn sách dành cho các bà mẹ sanh con đầu lòng. Những khó khăn, những trải nghiệm của chúng tôi đựơc chia sẻ. Hiện nay dù có nhiều sách dịch từ Âu Mỹ, nhưng các bà mẹ vẫn tìm đọc vì thấy có mình trong đó.. Đến lúc ra ngoài tuổi “tri thiên mệnh” tôi mới viết Gió heo may đã về để sẻ chia cùng bạn bè trang lứa! Rồi đến lục tuần, cảm nhận cho hết cái “tuổi già xồng xộc” tôi mới viết cuốn Già ơi …chào bạn. Những năm gần đây, tôi nghiên cứu lời Phật dạy và áp dụng vào đời sống. Tôi viết Nghĩ từ trái tim và một số bài về kinh Kim Cang gần đây trên Văn hóa phật giáo.. Trước hết là để tự chữa bệnh cho mình và sau đó giúp ích phần nào cho bạn bè , đồng bệnh tương lân. Có lẽ vì thế mà đựơc độc giả yêu mến chăng?
 
Về mối quan hệ giữa thân và tâm
VHPG: Dưới cái nhìn của một bác sĩ và một người đã thể nghiệm nhiều điều trong cuộc sống, anh có thể cho biết quan niệm của anh về mối quan hệ giữa thân và tâm?
BS. ĐHN: Nguy cơ lớn nhất của ngành Y hiện nay là đi quá sâu vào kỹ thuật mà tách cái thân khỏi cái tâm, thậm chí trong cái thân lại chẻ nhỏ ra thành những mảnh thân nhỏ hơn nữa để đi chuyên sâu. Điều đó có lợi về mặt khoa học nhưng lại làm cho con người không còn toàn vẹn nữa. Thật ra thân và tâm không thể chia chẻ được vì không thể nào có cái thân mà không có cái tâm và ngược lại: hai cái đó vốn là một. Với cái nhìn như vậy, những bệnh thường gặp trong xã hội hiện đại chính là những bệnh từ tâm chuyển qua thân. Bệnh do lối sống, do hành vi cũng chính là nó. Một người thầy thuốc khi chữa bệnh cho bệnh nhân, nếu chỉ thấy cái thân bệnh, mà không thấy cái tâm bệnh, tức là thấy cái “đau” mà không thấy được cái “khổ” của họ thì không thể chữa thành công. Hiện nay ngành Y khoa tâm-thể (médecine psychosomatique) dần phát triển trở lại. Các Trung tâm Y khoa lớn ở các nứơc phát triển đã đưa thiền, yoga vào chữa bệnh rất có hiệu quả. Ngành y, trong hướng phát triển tới cần phải quan tâm nhiều hơn nữa về mảng tâm thay vì chỉ quan tâm tới thân như hiện nay!.
VHPG: Anh có thể kể một vài trường hợp “bệnh do từ tâm bệnh chuyển qua thân bệnh” mà anh nhớ nhất?
BS. ĐHN: Nhiều lắm! Hai thứ “bệnh” này luôn gắn bó mật thiết với nhau. “Bệnh” luôn đi với “họan”, cũng như “đau” luôn đi với “khổ”vậy! Khi tiếp xúc với một bệnh nhân, tôi luôn tìm hiểu thêm những nỗi băn khoăn, sợ hãi, lo lắng của họ bên cạnh bệnh chứng. Điều trị như vậy mới có thể toàn diện được. Nhiều khi trên lâm sàng rất rõ là bệnh loét dạ dày, bệnh tim mạch nhưng nguyên nhân sâu xa của nó lại là do những stress chất chồng trong đời sống của họ, những ganh tỵ, ghen tuông, những bất an, bất mãn. Một bà mẹ đang cho con bú chẳng hạn mà khổ vì ghen thì sẽ bị mất sữa đột ngột. Bác sĩ cho thuốc làm tăng tiết sữa vô ích, vì phải chữa ở… ông chồng! Một đứa trẻ bị đái dầm, nguyên nhân sâu xa lại là do sự ganh tị với đứa em mới sanh, cảm thấy cha mẹ bỏ rơi mình nên kêu gọi sự quan tâm của họ bằng cách…. đái dầm như thế! Trường hợp này phải chữa cho cả nhà! Đấy là  những thí dụ cụ thể để thấy sự gắn bó giữa thân và tâm.
VHPG: Trong một bài viết của anh trên Văn Hóa Phật Giáo, anh đã viết: “Sữa mẹ là những tế bào thân xác mẹ vỡ ra mà thành”. Nhận định này đến từ cảm xúc của một người viết văn hay là từ cái nhìn của một bác sĩ y khoa?
BS. ĐHN: Nhận định này xuất phát từ sinh học. Trong cơ thể ta, từng giây từng phút có sự thay đổi, một số tế bào mất đi và tái tạo những tế bào khác. Những tế bào tạo ra sữa mẹ là loại tế bào tuyến khi căng đầy thì vỡ ra và trút hết những chất bổ dưỡng tạo thành sữa. Do vậy, sự chia sẻ giữa người mẹ với con thông qua sữa đi xuyên qua những tế bào, và do đó, tình mẹ con trở nên đặc biệt hơn bất kỳ tình cảm nào khác trong các mối quan hệ xã hội.

VHPG: Như vậy, mỗi thay đổi của người mẹ đều có ảnh hưởng đến đứa con?
BS. ĐHN: Điều đó là chắc chắn. Ở Đông Phương chúng ta có một từ rất hay là “thai giáo”, tức là giáo dục đứa bé ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Những ông bố bà mẹ ý thức được điều đó thì trong thời gian mang thai không nói nặng lời với nhau, tránh mọi sự xung đột, căng thẳng vì đứa trẻ từ tháng thứ tư trở đi trong bụng mẹ đã nhận biết được điều đó...
VHPG: Ở miền Trung có câu nói: “Con vào dạ, mạ đi tu” cũng mang ý thai giáo đó.
BS. ĐHN: Vâng, khi người mẹ mang thai thì người mẹ phải chuyển hóa chính mình để nuôi dưỡng tâm hồn của đứa con.

Kinh sách và đời sống
VHPG: Gần đây, anh viết nhiều về kinh Phật trong cuốn sách Nghĩ từ trái tim và hàng loạt các bài viết về kinh Kim Cang. Anh đã thâm nhập những bản kinh khó mà nhiều người vẫn ngại như Bát Nhã Tâm Kinh, kinh Kim Cang. Anh có thể cho biết những khó khăn khi  tiếp xúc với các bản kinh thâm sâu đó và viết về chúng?
BS. ĐHN: Tôi may mắn được những thuận duyên dẫn dắt từ nhỏ. Năm 12 tuổi, tôi mồ côi cha về sống với người cô trong một ngôi chùa Tàu nên được nghe cô tụng kinh mỗi ngày. Sau này, tôi có một ông bác xuất gia. Tôi còn học ở Đại học Vạn Hạnh một thời gian, có dịp tiếp xúc với kinh sách và các thầy, được nghe thầy Thích Minh Châu giảng. Sau này, làm việc nhiều quá, tôi cũng bị xao lãng đi. Đến khi bị tai biến mạch máu não phải nằm bệnh viện, tôi có cơ hội nhìn lại quãng đời đã qua của mình. Lúc này, có một người bạn gửi cho tôi bản Bát Nhã Tâm Kinh. Tôi đọc và thấy mình có thể hiểu được, thấm được! Trước đó, tôi cũng đọc các thứ nhưng chủ yếu bằng tri thức mà chưa thấm, chưa hiểu. Phải qua trải nghiệm ranh giới giữa sống chết như thế, tôi mới nhận ra được nhiều thứ hơn. Lần đầu tiên sau khi mổ xong, bước chân được xuống đất đi vài bước, tôi thấy quả là phép lạ! Tôi đã thấy rõ thế nào là hạnh phúc và  nhận thức rõ hơn về cách sống như thế nào để thoát khỏi những vướng bận, những khổ đau. Là một người thầy thuốc, tôi mong tìm một phương cách chữa trị bệnh tâm thân cho chính mình và giúp  đỡ mọi người, nên sau Tâm Kinh, tôi tiếp tục học hỏi thực tập thêm nhiều kinh Phật khác.
Cuốn Nghĩ từ trái tim tôi viết bằng cảm xúc, bằng sự thể nghiệm đời sống chứ không phải bằng suy luận lý trí. Mất 2 năm để nghiền ngẫm và 6 tháng để viết. Cứ mỗi ngày khám bệnh xong, tôi lại bắt đầu viết, viết “như điên”, có khi tới 2, 3 giờ sáng. Tôi cứ viết ra tất cả những gì mình nghĩ, những cảm nhận mình có đựơc. Viết xong, tôi thấy mình như đựơc… giải thoát! Tôi thận trọng đưa bản thảo viết tay cho hai người bạn Phật tử đọc giùm rồi còn nhờ ni sư Trí Hải đọc lại. Ni sư nói hôm đó bị cúp điện, phải đốt đèn cày mà đọc “chữ bác sĩ” cho tới sáng, gọi điện ngay góp ý đôi chỗ rồi khuyên tôi nên cho in ra. Tôi nghe lời, “liều mạng”  in thử, ban đầu nhà xuất bản cũng ngại nhưng sau lần in thứ nhất được độc giả hoan nghênh và đến bây giờ thì đã tái bản rất nhiều lần. Ở Mỹ, một Việt kiều in lại để biếu không ở các tiệm cơm chay. Ở Úc, người ta đọc thành 4 buổi trên đài phát thanh và ra CD.  Thường thì khi làm xong, người ta mới tặng tôi một mẩu để làm kỷ niệm và cũng gọi là để…xin phép sau!  Tôi cũng không ngờ cuốn sách này của mình lại được đón nhận nồng nhiệt như vậy. Có một kỷ niệm cảm động: một nữ độc giả viết thư nói bà nội cô rất yêu thích cuốn Nghĩ từ trái tim, mỗi ngày đều bắt các cháu đọc cho bà nghe,  khi bà mất, các cháu đã đốt cuốn sách cho bà…
VHPG: Còn kinh Kim Cang, tại sao anh lại tìm đến?
BS. ĐHN: Bát Nhã Tâm Kinh giải đáp cho tôi được câu hỏi “Tại sao?” nhưng “Bằng cách nào?” thì có lẽ Kim Cang và các kinh hướng dẫn thực hành kỹ năng mới giải đáp được.  Với Bát Nhã Tâm Kinh, ta thấy được cái không trong tự tánh vạn hữu, mối liên hệ giữa sắc và không. Nhưng làm cách nào để đạt được điều đó hẳn phải có một kỹ năng, chắc chắn là như vậy, vì Phật không nói lý thuyết suông. Tu phải đi đôi với hành là vậy! Kiểu tâm truyền tâm như các thiền sư xưa thật là khó quá. Chắc phải có một bí quyết nào đó. Thì ra kỹ năng đã đựơc dạy rất tuyệt vời trong Tứ niệm xứ. Rồi hình như Tứ niệm xứ vẫn còn hơi phức tạp, Phật đã dạy cụ thể hơn nữa là Thân hành niệm, nhưng chưa hết, sau cùng đã giản lược những điều cốt lõi trong An ban thủ ý (Anapanasati). Khi nghiềm ngẫm và thực tập, tôi tự hỏi không biết giữa prajna- trí  và prana- khí, có liên quan gì với nhau không? Chắc phải có. Bởi đã có sự liên hệ giữa thân  và tâm, giữa năng lượng và vật chất thì chắc chắn có sự liên hệ giữa prajna và prana. Có một khoảng lặng sau khi thở ra và trước khi thở vào, đó là prana-  áp suất hô hấp bằng không (0). Hành giả có thể cảm nhận hơi thở của mình lúc đó rất nhẹ, gần như vắng mặt và lúc đó khí trong phổi và khí quyển bên ngoài trở thành một, không phân biệt. Nói cách nào đó, hành giả cảm nhận một trạng thái vô ngã - sinh lý- vào lúc đó, dù chỉ trong chốc lát. Phát hiện ra  điều này, tôi rất mừng vì tìm được cơ sở khoa học cho sự thực hành. Tôi đã viết trong lọat bài “Nói không đựơc” trên VHPG.
VHPG: Vậy anh có thực tập Thiền?
BS. ĐHN: Tôi có thực tập theo cách riêng của mình, phù hợp với mình. Từ góc độ y sinh học,  tôi nghiền ngẫm, thể nghiệm, và lý giải đựơc phần nào ý nghĩa sâu thẩm của thiền nên tôi rất tin tưởng để áp dụng vào điều trị những vấn đề sức khỏe của tâm thân . Nhờ thiền mới có định, nhờ định mới có tuệ, nhưng theo tôi, tuệ cũng dẫn đến thiền và định. Giới định tuệ như một tam giác cân, có nhiều chiều tác động qua lại lẫn nhau, tùy cách tiếp cận và thực hành phù hợp cho mỗi cơ địa. Bản thân kinh “An ban thủ ý” chẳng hạn, nếu thực hành đúng thì đã có thể bao gồm cả Tứ niệm xứ và Thân hành niệm! Nhìn từ góc độ y sinh học, ta hiểu  tại sao ngày nay nhiều  Trung tâm y học lớn trên thế giới đã sử dụng thiền, yoga để chữa tâm bệnh một cách có hiệu quả trong khi chính phân tâm học cũng không giải quyết được rốt ráo vấn đề. Sự tiến bộ của khoa học sinh học dần giải thích đựơc những khám phá tuyệt vời của người xưa. Chẳng hạn ta hiểu sự hô hấp chính là hô hấp tế bào- có thể gọi là “thâm” hô hấp- nên trong thiền định nhu cầu oxy tiêu thụ sẽ giảm đi,  hiện tượng oxyt- hóa do đó cũng giảm, làm chậm tiến trình lão hóa. Những người thưc sự tu hành thấy lâu già và có sức khỏe bền bỉ là nhờ vậy!
VHPG: Xin anh nói một chút về mối liên hệ giữa những bản kinh Phật mà anh đã tiếp xúc với đời sống.
BS. ĐHN: Tôi học “lõm bõm”. Tự học, tự nghiền ngẫm, tự thể nghiệm, và thấy có hiệu quả khi ứng dụng vào đời sống hằng ngày, đúng như nhận định của Edward Conze, người dã dịch kinh Kim Cang sang tiếng Anh từ nửa thế kỷ trứơc. Tôi cảm nhận các kinh Phật đều nhất quán, xuyên suốt. Tùy đối tượng mà cách trình bày có thể khác nhau, ngôn ngữ khác nhau nhưng cốt lõi vẫn là một. Các kinh như “bổ sung” cho nhau, giúp ta có cái nhìn thấu đáo hơn dưới nhiều góc độ khác nhau. Càng tìm hiều tôi càng thấy thú vị và hấp dẫn. Khi hiểu đựơc “tức phi…thị danh” của kinh Kim Cang, ứng dụng vào thực tế ta sẽ không còn bị dính mắc nhiều, làm cho cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, thanh thản và hạnh phúc hơn. Dĩ nhiên, khi tìm hiểu tôi cũng gặp nhiều chỗ… bí nhưng may mắn là có những người đi trước đã nghiên cứu miễn là chịu khó tìm tòi, học hỏi. Nhiều lúc bí quá tôi cứ… để yên cho tiềm thức làm việc, rồi một hôm như có sự tình cờ nào đó bỗng giúp mình sáng ra. Thiệt ngộ!
VHPG: Nhiều người lo lắng rằng, nghiên cứu kinh điển và áp dụng kinh điển vào cuộc sống, thực tập thiền sẽ khiến con người bỏ bê cuộc sống, thờ ơ với sự nghiệp, đe dọa tới cái hạnh phúc thông thường và niềm vui sống của đời người…?
BS. ĐHN: Trái lại, tôi thấy nghiên cứu, ứng dụng và thực tập thiền, làm cho cuộc sống của mình uyển chuyển, nhẹ nhàng, thanh thản, vui sống hơn và hạnh phúc hơn. Nhờ bớt vướng bận, mình dễ sáng suốt hơn, nhờ tập trung tốt và ít hao tổn năng lượng vô bổ, mình dễ có hiệu năng hơn. Riêng đối với sức khỏe cũng thấy đựơc cải thiện nhiều hơn.

Ý nghĩa cuộc sống
VHPG: Nhìn lại những chặng đường đã qua, anh thấy ý nghĩa cuộc sống với anh như thế nào?
BS. ĐHN: Cuộc sống là một điều kỳ diệu, từ việc ông bà, cha mẹ mình “bỗng dưng” gặp gỡ nhau để rồi tạo nên sự hiện hữu của mình.  Vì thế, phải sống sao cho có hạnh phúc và sao cho có ích. Như vậy, mới tạo được sự an lạc cho bản thân mình và cho người khác, cho cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trở lại chuyện “hít thở” lúc nảy, tôi nghĩ rằng, bầu khí quyển này là bầu khí quyển chung, không thêm không bớt, các sinh vật từ con thằn lằn, tắc kè… cho tới cây cỏ cũng hô hấp như mình. Do vậy, tất cả các sinh vật đều có “duyên nợ”, gắn bó với nhau, chia sẻ với nhau, vì thế mình phải đối xử sao cho phải với tất cả! Mọi người nhận thức được như vậy thì chúng ta sẽ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ một xã hội an bình, hiểu rằng mình với người không khác biệt, mình với thiên nhiên không khác biệt. Điều này mang lại hạnh phúc cho cuộc sống và cũng chính là ý nghĩa của cuộc sống.
VHPG: Thưa anh, anh có thể nói một chút về ý nghĩa của đời sống gia đình
BS. ĐHN:  Gia đình là cái nôi đầu tiên của một em bé và sẽ còn tiếp nối là cái nôi trong suốt cuộc sống của mỗi con người. Nếu gia đình bền vững, hạnh phúc, thì con cái sẽ có chỗ dựa. Cuộc sống bây giờ nhiều gia đình bị lệch hướng, bị xáo trộn, sẽ có ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ thơ và từ đó gây bất ổn cho xã hội. Vì thế, cần thiết phải xây dựng gia đình thành tổ ấm để làm chỗ dựa cho tất cả mọi thành viên.
 VHPG: Cảm ơn anh đã dành cho VHPG buổi trò chuyện thú vị này.
                                                          Đức Sơn Trà Mi thực hiện
                                                          (Báo Văn Hóa Phật Giáo, số 39, Vu Lan 2007)
(Trích từ tập sách Gươm Báu Trao Tay của BS Đỗ Hồng Ngọc, NXB Phương Đông)
http://www.dieukhong.org/Van/DHN_GBTT_VeMoiQuanHegiuaThanvaTam.htm


Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tốt nghiệp Đại học Y khoa Saigon năm 1969, chuyên khoa Nhi; 

Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ và Giáo dục sức khỏe lại CFES, Paris, Pháp; 

Nguyên Trưởng khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 1 và giảng viên thỉnh giảng Đại học Y Dược TP.HCM; 

Nguyên Giám đốc Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe TP. HCM. Chủ nhiệm Bộ môn Khoa học hành vi và Giáo dục sức khỏe, Trung tâm đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ Y tế thành phố.


Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More