'Nếu bạn có thể học lái xe được thì bạn cũng có thể học để hạnh phúc được,' Matthieu Ricard, người được các nhà khoa học cho là hạnh phúc nhất trên trái đất.

‘Mọi thứ đều thuộc về chính chúng, chẳng thuộc về ai cả,’ Osho, Ngón tay Chỉ trăng

Tình yêu không phải là đối nghịch của thù hận. Tình yêu là cái toàn thể, và do vậy, nó không có cái đối nghịch!

‘Cuộc sống không chấp nhận đòi hỏi của bất kỳ ai về nó và cứ tiếp tục trôi đi mỗi khoảnh khắc’ Osho, Ngón tay Chỉ trăng

'Bản chất của bạn là hạnh phúc. Ham muốn điều đó chẳng có gì là sai. Sai lầm là ở chỗ đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài trong khi nó ở bên trong,' Ramana Maharshi — 'Happiness is your nature. It is not wrong to desire it. What is wrong is seeking it outside when it is inside.' Ramana Maharshi —

'Không có hạnh phúc nào bằng sự an tĩnh trong tâm hồn! —

Tuesday, June 3, 2014

Cuộc đời ngoại hạng của Darshani Deane

Inline image 1
Shirley Deane thời trẻ

Darshani Deane (Shirley deane) là một nhạc sĩ nhạc cổ điển nổi tiếng, đã trình diễn âm nhạc tại 72 quốc gia trên thế giới. 

Bà còn là một trong những phụ nữ đầu tiên có bằng phi công, đã bay nhiều chuyến “solo” qua các lục địa. 

Bà cũng là người đàn bà đầu tiên lái xe hơi du lịch khắp thế giới một mình. Trên đường du lịch, bà sống nhiều năm trên sa mạc miền Trung Đông, xây cất trường học cho trẻ em nghèo tại Phi Châu, soạn thảo cuốn “Africa Who’s Who” đề cập đến những nhân vật đã góp phần xây dựng cho lục địa này.

Bà đã trông nom một trại tỵ nạn dành cho người Tây Tạng tại Nepal và tu nhập thất trên rặng Hy Mã Lạp Sơn. Từ năm 1979, bà dành trọn thời giờ cho việc diễn thuyết và giúp đỡ thính giả của bà tìm được sự thoải mái, an tĩnh trong cuộc sống. 

Darshani Deane là một diễn giả nổi tiếng, đã giúp đỡ nhiều ngưòi trên phương diện tâm linh. Cuộc diễn thuyết nào của bà cũng thu hút rất đông quần chúng, sau buổi nói chuyện bà thường dành thời giờ tiếp xúc với thính giả để thảo luận thêm về những đề tài liên quan đến đời sống cá nhân của họ. Chi tiết cuộc tiếp xúc được ghi nhận và in thành sách dưới tựa đề “Wisdom, Bliss, and Comom Sense” (Tạm dịch : Minh Triết Trong Đời Sống). Cuốn sách này đã giúp nhiều người tìm được sự thoải mái trong đời sống tinh thần và là một trong những cuốn sách tâm linh bán chạy nhất năm 1989. 


Đi khắp thế gian tìm ý nghĩa cuộc sống

Cách đây không lâu, tôi là một nhạc sĩ nổi tiếng trình diễn âm nhạc
khắp thế giới nhưng tôi chưa thỏa mãn với chính mình, hình như tôi
còn muốn một cái gì nữa mà lúc đó tôi chưa ý thức rõ rệt. Tôi lái xe
hơi vòng quanh thế giới, khởi sự từ Âu Châu, qua Trung Đông với ý
định sẽ đi khắp Phi Châu, Á Châu trước khi về Mỹ Châu. 

 
Shirley Deane hiện nay
Cuộc hành trình đưa tôi đến bờ sông Hằng xứ Ấn Độ. Hôm đó tôi dừng chân
trước  đạo viện Sivananda nơi  đạo sư Krishnanandajj  đang giảng
kinh Vệ Đà. Dĩ nhiên tôi chưa bao giờ nghe nói đến kinh Vệ Đà và
cũng chẳng biết vị đạo sư đó là ai. Tôi chỉ muốn chụp vài tấm ảnh

kỷ niệm để làm bằng chứng cho cuộc du lịch của tôi mà thôi. Hôm
đó  đại sư  đã giảng cho học trò về Đại Ngã (Brahman), về cái lý
tưởng tuyệt đối, không thể phân chia của vũ trụ. Vì lý do gì đó, đấu
óc của tôi bỗng  được  đánh thức, tôi ý thức rằng từ trước  đến nay
cuộc đời của tôi chỉ là một giấc ngủ dài không tỉnh. Tôi nghe giảng
một cách say sưa, quên cả thời gian, không gian và lý do cuộc thăm
viếng đạo viện. Điều tôi hằng mong muốn nhưng chưa ý thức được
bỗng hiện lên rõ rệt trong đầu óc của tôi. Tôi quyết định dừng chân
tại đây để học đạo. Năm đó tôi vừa tròn 35 tuổi.

Tôi xuất thân trong một gia đình trung lưu tại thành phố New York.
Cha mẹ tôi tin rằng tôi có năng khiếu âm nhạc nên họ không quản
tốn kém mướn giáo sư kèm riêng cho tôi. Giáo sư của tôi, một nhạc
sĩ nghiêm khắc đã quyết địng rằng tôi phải trở nên một người độc
tấu nhạc cổ đìển, và chỉ nhạc cổ điển mà thôi. Điều này có nghĩa là
tôi không  được chơi các bài nhạc vui như Valse hay hòa tấu với
những học sinh khác. Qua âm nhạc, tôi nhận thức  được một sức
sống mạnh mẽ tiềm tàng trong mình và khám phá rằng tôi có nhiều
nhiệt thành với cuộc sống, lúc nào tôi cũng muốn vươn lên nắm bắt
lấy một cái gì mặc dù lúc đó tôi không rõ mình thực sự muốn gỉ.


Không như những thiếu nữ cùng lứa tuổi, tôi tin rằng hạnh phúc chỉ
có thể tìm thấy trong sự thành công nghề nghiệp, danh vọng và
“sống cho ra sống” chớ không phải ràng buộc trong những giới hạn
hôn nhân. Trong thời gian học tại đại học tuy quen biết nhiều ngưòi
nhưng không bao giờ tôi muốn bị lệ thuộc vào bất cứ ai.

Đời sống đối với tôi là một khu rừng đấy hoa thơm cỏ lạ với những
buồi trình diễn trên  đài phát thanh, đài truyền hình, trên sân khấu
những hộp  đêm sang trọng tại New York, Chicago, Paris, London
v.v…Tôi đã trình diễn trên du thuyền của những vương tôn công tử
hào hoa phong nhã. Giao thiệp với những người đàn ông từng trải,
chín chắn. Nhiều người ngỏ lời cầu hôn và hứa hẹn một  đời sống
thoải mái cho tương lai nhưng tôi chỉ muốn tự do làm tất cả những
gì mình muốn và tôi vẫn còn muốn nhiều thứ lắm.

Nghề nghiệp đưa tôi vào nhiều chuyến du lịch đầy hứng thú từ Âu
qua Á, từ những  đô thị  đông  đúc  ở Á Châu  đến những làng mạc
hoang vu tại Phi Châu. Tuy nhiên tôi không muốn là nhạc sĩ thuần
túy mà phải nhiều hơn thế nữa.

Tôi học lái phi cơ và trở thành một phi công có hạng. Tôi bay
“solo” nhiều chuyến từ đô thị này qua đô thị khác. Tôi đã vẫy vùng
trên không trung như một cánh chim giang hồ và đạt nhiều kỷ lục
đáng kể. Khi đó số phụ nữ có bằng phi cơ còn hiếm nên tôi đã trở
thành đề tài cho nhiều câu chuyện thời sự.

Tôi ham thích chơi cờ “Chess”, ngoài việc giải trí thanh nhã nó còn
là môi trường để thử thách cá tính con người. Tôi đã tranh giải trong
các hội quán quốc tế và hạ nhiều cao thủ xuất sắc. Trong các danh
thủ môn cờ này, rất ít người thuộc phái nữ nên tên tuổi của tôi còn
lẫy lừng hơn nữa nhưng đối với tôi nó vẫn chưa đủ, tôi chẳng bao
giờ cảm thấy thỏa mãn cả, tôi còn muốn nhiều hơn nữa kìa…


Tôi ký hợp đồng trình diễn tại Phi Châu và lang thang nhiều năm
trên lục  địa nắng cháy này. Tôi sống trên một du thuyền lộng lẫy
chạy dọc theo sông Nile suốt sáu tháng liền, nhưng rồi cuộc sống
vương gỉa làm tôi thấy nhàm chán. Tôi tìm đến một làng hẻo lánh,
sống chung với những nông dân trồng trọt rau trái. Tại đây tôi học
được bài học về sự hy sinh, nhẫn nại, lòng gắn bó chặt chẽ vào đất
đai để biến mảnh đất sa mạc khô cằn thành những đồn điền trù phú
nhưng không hiểu sao tôi không thấy mình gắn bó vào đâu cả.

Tôi trở lại Âu Châu trình diễn âm nhạc một thời gian, lòng phiên
lưu thúc đẩy, tôi mua một chiếc xe jeep để du lịch vòng quanh thế
giới. Hầu như bất cứ nơi nào ghé qua, tôi cũng bị bao vây bởi rừng
phóng viên, ký giả tò mò muốn tìm hiểu người phụ nữ đầu tiên dám
du lịch thế giới bằng xe hơi một mình. Cuộc du hành đưa tôi qua Phi
Châu, Trung Đông và rồi Á Châu. Tôi đi dọc theo rặng Hy Mã Lạp
Sơn hiểm trở để vào đồng bằng xứ Ấn, cho đến một hôm dừng chân
bên bờ sông Hằng và nghe nói đến danh từ Đại Ngã ( Brahman). Trí
óc của tôi bị thúc động mạnh mẽ, hình như tôi đã tìm được điều tôi
muốn, tôi quyết  định dừng chân nơi  đây học  đạo với Swami
Krishnanandaji.

Tôi học hỏi ý nghĩa kinh Vệ  Đà và chú trọng nhiều  đến bộ
Upanishads. Với tấm lòng cương quyết có  được kinh nghiệm tâm
linh, tôi  đã nhập thất thiền  định nhiều năm trên rặng Hy Mã Lạp
Sơn. Một hôm thấy trong lòng ngây ngất rạo rực bởi một cảm giác
an tĩnh lạ thường, tôi vội báo tin cho thầy tôi biết rằng “Nếu tiếp tục
cố gắng khoảng sáu tháng nữa tôi có thể giác ngộ”. Thầy tôi không
nói gì chỉ lắc đầu rồi yêu cầu tôi trở lại động đá suy gẫm thật kỹ về
một đề tài của kinh Vệ Đà: “Khiêm tốn là bước đầu của tất cả sự tiến
bộ”. Sau khi suy gẫm kỹ lưỡng về đề tài trên, tôi ý thức rằng  người
ta không thể tự hào với một công phu nhỏ bé như thế được, tôi bèn
cương quyết nhập thất trọn đời. Tôi báo tin cho thầy tôi biết rằng “
Tôi sẽ từ bỏ thế gian này để thực hành thiền định cho đến khi chết”.
Một lần nữa thầy tôi lắc đầu và nói rằng: ‘Tại sao con lại nghĩ rằng
con có thể từ bỏ thế gian này hoặc thế gian này sẽ từ bỏ con? Hãy
suy gẫm thêm nữa về sự liên hệ giữa cá nhân và thế giới”. Thế là tôi
lại chui vào động đá để suy gẫm thêm.

Mùa mưa đến với rắn rết, côn trùng bò đầy vào trong hang nhưng
tôi vẫn không sờn lòng, tôi ao ước có  được kinh nghiệm tâm linh
trước khi giấy thông hành của tôi hết hạn. Tuy nhiên thời gian là một
thử thách lớn, sau mấy năm nhập thất mà vẫn chưa kinh nghiệm
được  điều tôi muốn, lòng phiên lưu mạo hiểm thúc dục tôi lên
đường. Tôi muốn biết ngoài giáo lý Vệ Đà còn có những giáo lý nào
khác nữa hay không? Biết đâu tôi chẳng học hỏi thêm được đìều gì
hay ho hơn nữa? Biết đâu tôi chẳng tìm được một giáo lý nào thích
hợp với tôi hơn, thế là tôi từ gĩa động đá đi Katmandu.

Tôi dừng chân trước một trại tỵ nạn dành cho người Tây Tạng. Sự
kiện những người dân hiền lành, chất phát phải bỏ mảnh  đất quê
hương tìm tự do làm tôi xúc động. Hơn lúc nào hết tôi ý thức rõ rệt
về sự liên hệ giữa cá nhân tôi và thế giới bên ngoài, tôi lập tức tình
nguyện làm quản lý trại tỵ nạn này. Tôi thành lập trường học,
thiếtlập trạm y tế, họp báo kêu gọi thế giới ý thức về tình trạng cai
trị hà khắc của Trung Cộng. Tôi nghĩ rằng nhờ công tác xã hội này
tôi sẽ tìm được đìều tôi muốn cái gì, đời sống đối với tôi bỗng trở
nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Hằng ngày tôi thường lái xe chuyên chở thực phẩm cho trại tỵ nạn
qua những đường đèo nhỏ hẹp trên rặng Tuyết Sơn. Tôi nhìn thấy
hằng trăm xác xe hơi dưới đáy thung lũng, chỉ một lơ đãng cả người
và xe đều rơi xuống vực sâu. Hơn lúc nào hết sự chết bắt đầu ám ảnh
tâm trí tôi. Tôi nghĩ nhiều về sự chết, về đời sống và bắt đầu sợ hãi. 

Tôi vừa lái xe vừa cầu nguyện, đôi khi tôi còn đọc những bài thần
chú Tây Tạng nữa. Không ai muốn chêt trước khi được một quyền
năng nào đó “bảo đảm“ cho.

Vì công việc xã hội tôi quen biết linh mục Moran và Hòa Thượng
Serkong Rimpochen. Tôi than thở với hai vị này rằng “ Khi xưa tôi
vẫn nghĩ đời sống là một cái gì đẹp đẽ nhưng hiện nay tôi lại thấy
đời sống sao đầy những khó khăn, không sao thoải mái được”. Cả
hai khuyên tôi phải có một thái độ với cuộc sống. Linh Mục Moran
khuyên tôi cầu nguyện Thượng Đế nhiều lần trong ngày. Hòa
Thượng Serkong khuyến khích áp dụng một kỷ luật chặt chẽ  để
kiểm soát thân và tâm. Tuy nhiên tôi không giữ được điều gì vì đấu
óc của tôi lúc  đó cứ bị dầy vò, xung  đột bởi một cảm giác trống
rỗng, thiếu thốn, không thể diễn tả.

Ít lâu sau tôi trở lại  đạo viện Sivananda khóc lóc với  đạo sư
Krishnanandaji:” Con không thể sống với cái thế giới đầy phiền não
này được nữa, con quyết định nhập thất thiền định cho đến khi đạt
được kinh nghiệm tâm linh. Con không muốn du lịch hay làm công
việc xã hội nữa mà chỉ ao ước kinh nghiệm của Thượng Đế mà thôi.
Từ nay con nhất quyết đoạn tuyệt với thế giới bên ngoài.”

Một lần nữa đạo sư Krishnanandaji lại lắc đầu nói rằng: “Tại sao
con lại nghĩ mình có thể từ bỏ thế giới này? Thượng Đế và thế giới
này đâu phải hai phần cách biệt, hãy tập trung tư tưởng để suy gẫm
thật kỹ về  đề tài này”. Từ  đó bên dòng nước sông Hằng, tôi  đắm
mình vào việc thiền  định, suy gẫm về cuộc  đời  đã qua của mình.
Cho đến lúc đó tôi mới hiểu được rằng cuộc sống “ thiếu ý thức” của 
tôi khi trước chỉ là những gì chập chờn như giấc mộng. Tuy hiểu
được vậy nhưng tôi vẫn chưa biết cách sống làm sao cho thoải mái
để tìm sự an tĩnh trong nội tâm.

Sau một thời gian thiền định, quán tưởng, lòng phiên lưu mạo hiểm
lại thúc dục tôi lên đường. Tôi tự nhủ biết đâu tôi chẳng học hỏi điều
gì hay ho hơn nữa? Tôi qua Nga Sô, Đông Âu và Tây Âu trình diễn
âm nhạc và dừng chân ở một làng nhỏ nước Ý. Tại đây tôi gặp Linh
Mục Padre Pio, một người mà trên thân thể có những bí tích (những
dấu vết đóng đinh giống như Chúa Giê Su, mỗi năm cứ đến thời gian
trước lễ Phục Sinh thì những vết thương đó lại chảy máu một cách
kỳ lạ). 
Tôi được Linh Mục Pio chỉ dẫn rất nhiều về giáo lý bí truyền chỉ
phổ biến trong những dòng tu kín. Sống gần Linh Mục tôi kinh
nghiệm được một sự bình an lạ lùng, mỗi khi Ngài giơ tay ban phép
lành thì tôi lại thấy trong người dào dạt một cảm giác bình an vô
hạn. Hàng ngày tôi tham dự khóa lễ tại nhà thờ San Giovani, lòng
yêu thương sùng kính của tôi đối với đấng Christ gia tăng mãnh liệt.
Tôi muốn gia nhập dòng tu kín, trở nên một nữ tu dành trọn cuộc đời
cầu nguyện Thiên Chúa nhưng tôi vẫn ngần ngại vì không quên cái ý
thức về  Đại Ngã (Brahman) và những kinh nghiệm thu thập bên
dòng sông Hằng. Tôi cảm thấy trong người bị xâu xé bởi một cảm
giác mâu thuẫn. Một mặt muốn quay về với triết lý phương Đông
nhưng mặt khác tôi lại thấy thoải mái với lối giải thích của thần học
Tây Phương. Ít lâu sau tôi nhận lời mời của giáo sư John Bennett qua Luân Đôn
nghiên cứu công trình còn lại của Gurdjieff, một triết gia kiêm nhạc
sĩ nổi tiếng . Gurdjieff đã dung hòa được tư tưởng Đông và Tây qua
những lời khuyên hết sức thực tế, ngoài ra ông cũng là một nhạc sĩ
nên tôi nghĩ rằng một nhạc sĩ tôi có thể thông cảm với nhạc sĩ hơn. 

Tôi chuyên tâm nghiên cứu công trình của Gurdjieff, một hôm đang
đi bộ trên đường Oxford, tôi bỗng ý thức được một cảm giác tự do
kỳ lạ, tôi không còn thấy mình là mình nữa mà cứ lâng lâng như
được nâng lên một bình diện nào đó cao hơn. Tôi ngây ngất một lúc
rất lâu và ý thức được điều Gurdjieff vẫn nói :” Sự ý thức toàn vẹn
về sự sống.”

Tôi kể cho giáo sư Bennett nghe về kinh nghiệm này và ngỏ ý
muốn tìm một nơi yên tĩnh để suy gẫm thêm. Giáo sư Bennett không
đồng ý, ông nói:” Tách ra khỏi đời sống không phải điều Gurdjieff
chủ trương, sống và ý thức sự sống, ý thức sự chuyển hóa của mình
với đời sống mới là điều quan trọng.” Tôi không đồng ý với giáo sư
Bennett, đầu óc của tôi vẫn khăng khăng nghĩ rằng tôi có thể tìm đến
nơi chốn nào để sống trọn vẹn với cái cảm giác bình an đó mãi. Tôi
tìm đến một tu viện hẻo lánh ở Phi Châu, và tôi tuyên bố với tu sĩ
trưởng: “Tôi đến đây để tìm sự yên tĩnh, để suy gẫm, để nghiên cứu,
để kinh nghiệm…” Trước khi tôi có dịp nói hết lời thì tu sĩ này đã
lạnh lùng ngắt lời : “Muốn sống tại đây ai cũng phải làm việc. Tôi
giao cho bà một số văn kiện, giấy tờ, bà có bổn phận sao lục ra làm
nhiều bản, gửi đến địa chỉ trong danh sách này. Yêu cầu bà làm việc
ngay vì đây đều là những thư khẩn cả”.

Thế là tôi thấy mình “  è  “ cổ ra sao lục những văn kiện, giấy tờ.
Lúc đó không có máy Photocopy, không có máy điện toán như hiện
nay nên mọi việc đều phải làm bằng tay. Khi tôi trình lên tu sĩ xấp
văn thư dầy cộm, ông này liếc qua mấy hàng và phê bình ngay: “ Bà
làm việc cẩu thả, chữ viết nghiêng ngả, những con tem dán không
thẳng hàng. Yêu cầu bà hãy làm lại, bà hãy ngâm những con tem
vào nước, bóc ra rồi dán lại cho thật ngay hàng thẳng lối. Tuyệt đối
không được phí phạm một thứ gì vì phong bì, giấy tờ và những con
tem đều tốn kém, phí phạm nó sẽ gây thiệt hại cho ngân quỹ nơi đây.
Yêu cầu bà làm việc cho thật nghiêm chỉnh vì đó là đường lối tại
đây, nếu không được như thế xin bà rời nơi này ngay lập tức.”
Tôi không thể tin rằng một người mang danh tu sĩ lại ăn nói lạnh
lùng, bất lịch sự như vậy. Từ trước đến nay tôi là người nổi tiếng, đi
đâu cũng được kính trọng, nể vì, không ai ăn nói hỗn xược như vậy
với tôi nhưng rồi tôi cũng dẹp bỏ tự ái, cắn răng hoàn tất công việc
giao phó. Đến khi đó vị tu sĩ mới dịu giọng hỏi tôi: “ Thưa bà bà
muốn học hỏi điều chi? “Tôi nói ngay mà không cần suy nghĩ : “ 

Tôi muốn được kinh nghiệm với đấng Vô Cùng”. Vừa nghe vậy, tu
sĩ đã lạnh lùng: “ Thế thì bà đi lầm chỗ rồi, tại đây chúng tôi chỉ chủ
trương ý thức tất cả mọi hành  động và hoàn hảo trong mọi hành
động mà thôi.” Tôi sững sờ một lúc nhưng rồi quyết định sống tại đó
một thời gian xem sao vì biết đâu tôi chẳng học hỏi thêm được điều
gì chăng?

Ngày tháng trôi qua, tôi bị ép buộc phải làm nhiều việc một cách vô
cùng cực nhọc. Tôi dậy sớm quét nhà, lau dọn, chùi cầu tiêu và tất
cả mọi việc lao động trong tu viện thế mà còn bị chỉ trích và phê
bình đủ thứ. Hình như người ta cố tình áp dụng  “Kỷ Luật Sắt” riêng
cho tôi. Dù tôi làm việc tốt đến đâu người ta cũng có thể tìm cách
chê trách  được, dĩ nhiên lúc  đầu tự ái của tôi bị va chạm mạnh
nhưng rồi sau cũng quen đi. Điều tôi không ngờ là cái bản ngã tự
cao tự đại, đầy kiêu căng phách lối của tôi nhờ thế mà cũng giảm
dần theo thời gian. Cái cảm giác thiếu thốn khó chịu cũng theo đó
mà biến mất, tôi bắt đầu cảm thấy thoải mái với chính mình nhiều
hơn. Khi biết thoải mái với mình thì người ta bắt đầu nghĩ đến người
khác và tôi đã suy nghĩ nhiều về mối liên hệ giữa cá nhân và xã hội.
Tôi thấy từ trước đến nay tôi sống một cách ích kỷ quá. Do đó, khi
một phái đoàn truyền giáo đi ngang, tôi vội tháp tùng theo họ đến
Nam Phi. Tại đây tôi dồn sức ra làm việc xã hội, mở trường học, lập
trạm y tế, sống trong những làng mạc của người da đen.

Công việc hoạt động này giúp tôi có cơ hội tiếp xúc với nhiều nhân
vật quan trọng của Phi Châu. Tôi thấy người ta đã cố tình loại bỏ tên
tuổi những người da đen trong các công trình xây dựng quan trọng
tại đây. Cuốn niên giám nhân vật Phi Châu” Who’s who in Africa”
không hề đề cập đến bất cứ một người da màu nào.

Sự bất công, kỳ thị chủng tộc của người da trắng  đã thúc đẩy tôi
phải làm một cái gì. Tôi bỏ thời giờ nghiên cứu  để xuất bản một
cuốn niên giám nhân vật khác. Lúc đầu tôi nghĩ nó chỉ mất khoảng
sáu tháng là nhiều, sau đó tôi sẽ tìm về một làng mạc hẻo lánh để 
tiếp tục công tác xã hội và thiền định, nhưng sáu tháng lại biến thành
bốn năm. Công trình nghiên cứu cuốn niên giám nhân vật đòi hỏi
một sự kiên nhẫn, bền chí và cương quyết trong môi trường mà sự
kỳ thị chủng tộc và nỗi bất công là việc đương nhiên. Cho đến khi
đó tôi mới ý thức được sự lợi ích của thời gian sống trong kỷ luật
tuyệt đối tại tu viện kia. Thời gian làm việc tại Phi Châu giúp tôi ý
thức gía trị của cuộc sống và hiểu biết về chính tôi nhiều hơn.

Tôi biết cách sống một cách thoải mái, bình dị và quyết định Phi
Châu là quê hương thứ hai của tôi.

Để nghiên cứu làm cuốn niên giám nhân vật, tôi  đã du lịch qua
nhiều làng mạc, quốc gia tại Phi Châu. Một người Phù Thủy đã nói “
Bà sẽ trở nên một giáo sư và có rất nhiều học trò”. Tôi không tin
những điều tiên đoàn vu vơ nên gạt đi viện lẽ tôi không hề có bằng
cấp giáo dục và cũng không có ý  định mở trường dậy dỗ ai hết
nhưng ông này nhấn mạnh “ Quá nhiều người không ý thức  được
đìều họ làm và cần giúp đỡ. Thế giới này thiếu gì người có bằng cấp
nhưng nếu họ không ý thức được chính họ thì làm sao họ có thể giúp
đỡ hay dậy dỗ ai? Bà có nhiều kinh nghiệm cá nhân và nên chia sẻ
điều này với người khác.”

Tôi không  để ý  đến lời khuyên của ông này nhưng sau khi cuốn
sách được xuất bản, tôi được nhiều nơi mời diễn thuyết và một bất
ngờ xảy ra. Đa số thính giả chỉ muốn nghe tôi nói về những kinh
nghiệm cá nhân của tôi hơn là tiểu sử nhân vật mà tôi ghi chép trong
cuốn niên giám nhân vật. Chỉ ít lâu sau người ta chính thức mời tôi
diễn thuyết về những kinh nghiệm tâm linh này thay vì những đề tài
khác. Số thính giả mỗi ngày một đông, nhiều người cho biết họ tìm
được sự thoải mái sau khi áp dụng những phương pháp mà tôi đề
xướng.

Ít lâu sau tôi gặp lại người phù thủy nọ. Lần này ông ta cho biết “Bà
sẽ rời Phi Châu đi diễn thuyết khắp nơi trên thế giới, bà sẽ giúp đỡ
nhiều người hơn nữa…” Tuy bán tín bán nghi nhưng tôi đã trả lời :
“Tôi chán du lịch lắm rồi, tôi chỉ muốn sống yên  ổn tại  đây thôi.
Không ai có thể bắt tôi đi đâu nữa.” Người Phù Thủy thản nhiên nói
: “Điều bà muốn và điều Ngài muốn có thể không giống nhau nhưng
rồi bà sẽ học được điều cần phải học.” 
Để chắc  ăn tôi cho đi tất cả những quần áo, hành trang và cương
quyết không đi đâu nữa. Vài tháng sau tôi được mời nói chuyện tại
câu lạc bộ phụ nữ  ở New York. Tôi nghĩ thầm dự một buổi diễn
thuyết ngắn ngủi về phong tục và văn hoá Phi Châu rồi trở về đây
ngay thì  ăn nhằm gì. Thế là tôi thu xếp hành trang lên đường qua
Hoa Kỳ.

Khi  đến New York tôi  được biết  đạo sư Baba Muktananda cũng
đang diễn thuyết ở đó. Tôi đã nghe nhiều người nói về ông này khi
còn ở Ấn Độ nên nhủ thầm đây quả là dịp may hãn hữu vì BIẾT
ĐÂU TÔI CHẲNG HỌC THÊM ĐƯỢC MỘT ĐIỀU GÌ HAY
CHĂNG?
Tôi ngồi trên hàng ghế đầu nghe Baba Muktananda diễn thuyết về
những kinh nghiệm tâm linh. Tôi băn khoăn tự hỏi “Tại sao trải qua
bao công phu tu tập, thiền định và quán tưởng mà tôi vẫn chưa có
được kinh nghiệm tâm linh nào?” Đang diễn thuyết  đạo sư Baba
bỗng ngưng nói nhìn thẳng vào chỗ tôi và thong thả nói:
•  Này chị kia, chị chưa kinh nghiệm  được gì vì chị còn ích kỷ,
tham lam và có nhiều ràng buộc quá
•  Tuy giật mình nhưng là một phụ nữ quen hoạt động, tôi đã trấn
tỉnh ngay:
•  Ông nói tôi ư? Tôi có nhiều ràng buộc sao?
Baba thản nhiên:
•  Đúng thế, nếu không tin chị hãy nhìn vào ví của chị mà xem.
•  Tôi lục chiếc ví nhỏ, ngoài các đồ dùng cá nhân lặt vặt trong ví
chỉ có mỗi chiếc vé phi cơ về Phi Châu ngày hôm sau thôi. Dĩ
nhiên tôi phải trở về Phi Châu…Ngay lúc đó một ý nghĩ nổi lên
trong đầu óc. Tôi run giọng:
•  Ông muốn nói người ta có thể bị ràng buộc vào một quốc gia,
một lục địa, một lý tưởng hay một con chó. Nếu người ta cứ mải
miết suy nghĩ về những điều mình muốn nhiều hơn suy gẫm về
những điều cao thượng khác.
•  Quả thế, thời gian gần đây tôi thường nghĩ đến Phi Châu, nghĩ
đến những công trình mà tôi đã xây dựng tại đây, nghĩ đến những
làng mạc hẻo lánh, những người dân quê chất phát hồn nhiên,
những nơi chốn mà tôi  đã cải thiện  được và cảm thấy hết sức
hãnh diện nhưng tôi không bao giờ nghĩ mình lại bị ràng buộc
vào đó. Không hiều sao Baba đọc được ý tưởng thầm kín của tôi,
ông nói luôn:
•  Chị không nghĩ chị bị ràng buộc hay sao? Nếu vậy chị nghĩ sao
khi phải từ bỏ tất cả những nơi đó để sống tại Hoa Kỳ?
•  Sống tại Hoa Kỳ  ư? Không bao giờ! Không  đời nào tôi muốn
sống tại nơi mà những giá trị vật chật như tiền bạc, danh vọng
được đề cao như giá trị tối thượng. Không đời nào tôi muốn chui
rúc vào những phiền toái của đời sống mà tôi đang cố gắng thoát
ra. Tôi đã đoạn tuyệt với nó từ lâu rồi kia mà. Một lần nữa Baba
nói lớn:
•  Này chị kia, chính những  điều mà chị muốn tránh né  đã ràng
buộc chị vào những điều khác. Chị không thể trốn chạy mãi như
thế  được, chị có muốn thực sự kinh nghiệm những  điều cao
thượng tốt lành không? Tôi im lặng, câu nói của Baba như có
một sức mạnh phá tung tất cả quan niệm từ trước đến nay của tôi.
Tôi ngồi im, sững sờ nhưng trong  đầu của tôi cả là bãi chiến
trường. Sau cùng tôi mở ví, rút tấm vé phi cơ đưa cho Baba. Ông
cầm tấm vé phi cơ trên tay và thong thả nói riêng với tôi:
•  Chị có chắc chị sẽ làm như vậy không?
Tôi biết ông ta ám chỉ điều gì. Tôi nói qua hàng lệ:
•  Thưa có, tôi muốn kinh nghiệm của Thượng Đế.

Tôi không trở lại Phi Châu nữa mà tìm đến một khách sạn nhỏ gần
đó tập trung công phu vào việc thiền định và suy gẫm về sự tự do
tuyệt đối, về sự cởi bỏ ràng buộc. Tôi không còn nghĩ đến điều mình
muốn nữa, không còn nghĩ  đến quá khứ,  đến những phiền toái,
những điều mà tôi muốn xa lánh. Tôi chỉ chuyên tâm suy nghĩ về
những điều cao thượng tốt lành. Từ khi ý thức được điều này, công
phu thiền định của tôi tăng tiến rõ rệt, tôi cảm thấy như được che
chở trong một luồng từ điện yên tĩnh an lành nào đó. Nhưng rồi một
vọng niệm lại nẩy sinh trong đầu óc tôi, tôi ao ước sẻ an trú trong
trạng thái an lạc này mãi mãi. Ý tưởng đó vừa nảy sinh tôi đã hối
hận nhưng đã muộn, chỉ vài giờ sau, người chủ khách sạn đã đến đập cửa  đòi tiền và tôi khám phá rằng tôi  đã tiêu sạch số tiền dự trữ
mang theo.

Để kiếm sống, tôi đành trở lại việc diễn thuyết về đề tài tâm linh. Số
thính giả mỗi ngày một đông nhưng tôi vẫn không quên trạng thái an
lạc kinh nghiệm được trong khi thiền định. Tôi mong có thể tìm một
nơi chốn vắng vẻ, yên tĩnh để an trú trong trạng thái an bình đó. 
Cơ hội đã đến khi một người bạn cho biết anh có một căn nhà nghỉ
mát nhỏ nằm sâu trong rừng, nếu muốn, tôi có thể sống tại đó mà
không phải trả tiền thuê mướn chi hết. Căn nhà này không có những
tiện nghi như điện, nước hay lò sưởi vì chủ nhân chỉ tạm trú mỗi khi
săn bắn mà thôi. Tôi vội vã chụp ngay cơ hội hiếm có này.
Đời sống tại đây không dể dàng như tôi nghĩ, hàng ngày tôi phải
gánh nước từ một dòng suối nằm sâu dưới đáy thung lũng lên nhà.
Tuy nhiên tôi học cách ý thức từng cử chỉ và hành động của mình và
tìm sự bình an trong mọi hành động. Tôi thoải mái khi giặt giũ quần 
áo dưới suối, khi nấu ăn, khi lau nhà và việc tu thiền của tôi càng
ngày càng tiến bộ. Tôi nhủ thầm sẽ không đi đâu nữa vì tôi đã tìm
được một nơi trú ẩn thoải mái, đã tìm được điều ao ước từ bao lâu
nay. Nếu những bực đã chứng ngộ đều đạt đạo tại những nơi hoang
vu cô tịch thì biết đâu điều đó lại chẳng xảy ra cho tôi?
Một ngày mùa đông, thời tiết lạnh giá, chỉ trong thoáng giây nhiệt
độ trong nhà đã sụt xuống đến mức khủng khiếp. Chiếc lò sưởi xách
tay nhỏ tự nhiên không chạy nữa mặc dù nó vẫn còn đủ dầu hôi. Tôi
mặc tất cả quần áo vào mình để chống lạnh và thực tập phưong pháp
Yoga về Nhiệt Công. Không hiểu vì lý do nào mà mọi ngày tôi có
thể chịu  đựng  được thời tiết giá lạnh nhưng lần này lại khác, một
luồng hơi lạnh ở đâu thấm vào cơ thể khiến chân tay tôi đông cứng.
Tôi cố gắng tập trung tư tưởng để thiền định, mọi khi tôi có thể nhập
thiền dễ dàng nhưng hôm nay người tôi cứ run lên vì lạnh. Tôi cố
gắng làm tất cả những gì tôi biết để chống lạnh nhưng vô hiệu, hơi
lạnh như muôn ngàn con dao sắc bén đâm sâu vào da thịt. Tôi bắt
đầu lo sợ, từ đây ra đến làng gần nhất cũng phải mất hơn mười cây
số, mười cây số đường bộ trong cái lạnh kinh hồn này quả là một thử
thách vô cùng lớn lao.

Đến gần sáng không thể chịu đựng được nữa tôi đành thu thập hành
trang lên đường. Tôi run rẩy bước đi trong làn gió bấc rét căm căm,
toàn thân tôi như bị đông cứng trong cái lạnh kinh hồn. Tuyệt nhiên
không một tiếng  động nào mà chỉ có tiếng chân lê bưóc trên con
đường mòn nhỏ phủ đầy tuyết trắng.

Ba giờ sau, tôi dừng chân trước quán ăn ở đầu làng, chưa bao giờ
mùi cà phê nóng lại có thể quyến rũ tôi đến thế. Ánh đèn điện sáng
choang, tiếng người nói ồn ào, mùi xào nấu thơm phức… Hơn lúc
nào hết, tôi ý thức ngay một cảm giác hoan hỷ khi được trở lại với
cái thế giới mà tôi vẫn muốn từ bỏ nó. Tôi ngồi trên chiếc ghế bành
ấm áp của nhà hàng và ý thức rằng. “ Tôi đã làm tất cả những gì có
thể làm để từ bỏ thế gian vì tôi nghĩ thế gian này và tôi là hai thực
thể tách biệt. Cho đến lúc đó tôi mới ý thức rằng tôi chinh là một
phần của thế gian này và vì là một phần của nó, tôi không thể tách
riêng ra được. Chính sự ham muốn đã thúc đẩy tôi đi tìm tất cả, kể
cả những kinh nghiệm tâm linh, nhưng trải qua nhiều biến cố rời rạc
tôi mới thấy rõ một sự liên hệ, gắn bó, có ý nghĩa vô cùng. Tôi đã
học được bài học mà tôi phải học.”

Tôi trở lại với công việc diễn thuyết, số khán giả mỗi ngày một
đông hơn trước. Điều tôi kinh nghiệm  được trong buổi sáng mùa
đông hôm đó đã dậy cho tôi một bài học vô cùng quí giá. Thật ra
những điều này tôi vẩn biết qua sách vở, kinh điển, qua sự dậy dỗ
của các đạo sư nhưng tôi chưa thực sự kinh nghiệm được nó, ý thức
được nó. 
CÓ LẼ CHÚNG TA KHÔNG HỌC  ĐƯỢC BÀI HỌC MÀ
CHÚNG TA PHẢI HỌC NÊN CHÚNG TA CỨ PHẢI HỌC ĐI,
HỌC LẠI MÃI CHO ĐẾN KHI NÀO THỰC SỰ HỌC ĐIỀU
PHẢI HỌC VÌ ĐỜI SỐNG TỰ NÓ VỐN KHÔNG CÓ TÍNH
CÁCH CÁ NHÂN. 

KHI CẦN PHẢI TĨNH TÂM TRONG SỰ
CÔ TỊCH THÌ HOÀN CẢNH SẼ ĐẾN VỚI CHÚNG TA, KHI
CẦN HÀNH  ĐỘNG THÌ HOÀN CẢNH SẼ THÚC GIỤC
CHÚNG TA HOẠT ĐỘNG. 

TẤT CẢ MỌI SỰ MONG CẦU, AO ƯỚC, DÙ LÀ AO ƯỚC MỘT SỰ BÌNH AN CŨNG ĐỀU
LÀ NHỮNG VỌNG NIỆM VÀ NẾU LÀ NHỮNG VỌNG NIỆM
NÓ CẦN PHẢI LOẠI TRỪ.


Nguồn: Lời giới thiệu cuốn sách minh triết trong đời sống hàng ngày, Darshani Deane (Shirley Deane)


Đọc sách
http://www.wattpad.com/347601-minh-tri%E1%BA%BFt-trong-%C4%91%E1%BB%9Di-s%E1%BB%91ng?p=14#!p=1 

Photos and more stories about her

Lắng nghe: không dễ


Lắng nghe không có nghĩa chỉ là nghe đơn thuần. Tất cả chúng
ta đều có thể nghe, có tai là đủ để nghe được. Nghe là hiện
tượng cơ giới. Có âm thanh, nó lọt vào tai bạn và bạn nghe
thấy nó. Nhưng lắng nghe không chỉ là điều này. Lắng nghe
nghĩa là nó đã không chỉ được nghe bằng tai, rung động này
đã thấm vào tâm thức sâu bên trong bạn. Cố hiểu điều này
một chút.
Bạn đang đi dọc con đường, nhà của bạn đang bốc cháy
và bạn chạy về phía nó. Người nào đó đi ngang qua đường
lên tiếng chào bạn. Tai bạn sẽ nghe thấy lời đó nhưng bạn sẽ
không nghe. Hôm sau bạn sẽ không có khả năng ngay cả nhớ
được rằng ai đó đã chào bạn trên đường. Khi nhà bạn đang bị
cháy, nếu ai đó đang hát trên đường, tai bạn sẽ nghe nhưng
bạn không nghe.
Nghe bằng tai không phải là bạn lắng nghe. Không
nhất thiết là nếu tai bạn nghe, bạn cũng lắng nghe. Tai là cần
cho việc nghe nhưng chưa  đủ; cái gì  đó thêm nữa là  được
cần tới bên trong. Khi nhà bạn bị cháy, bạn không nghe thấy lời chào.
Tại sao? Cơ chế của tai bạn  không thay đổi nhưng sự chú ý tới tai đã
bị phá vỡ từ bên trong.

Bạn chú ý tới nhà đang cháy. Tai đang nghe, nhưng cây cầu
của chú ý cần để đưa nội dung lên ý thức bị mất, cây cầu đó
đã bị loại bỏ. Nó đang được dùng cho ngôi nhà bị cháy. Cho
nên tai có khả năng nghe nhưng bạn không nghe. Mỗi liên hệ, cây cầu
chú ý giữa bạn và tai, bị gẫy.
 

Lắng nghe nghĩa là cả bạn và tai bạn đều hiện diện, được
nối - thế thì việc lắng nghe xảy ra. Đó là vấn đề khó khăn.
Tạo ra liên hệ với tai là vấn đề của nỗ lực tâm linh.  
Lắng nghe có nghĩa là khi bạn nghe, toàn bộ ý thức của
bạn trở thành việc nghe; chỉ có việc nghe còn lại, không có
cái gì khác nữa. Không suy nghĩ nào thoáng qua bên trong,
bởi vì nếu có ý nghĩ thoáng qua bên trong bạn, chú ý của bạn
bị phân tán vào trong việc suy nghĩ và rời bỏ tai.

Chú ý là  điều rất tinh tế và nhạy cảm. Chỉ thoáng suy
nghĩ vương vấn bên trong là chú ý đi sang nó. Bạn đang lắng
nghe tôi và một con kiến cắn chân bạn - không cần đến việc
nhà bạn bị cháy - thế thì trong một khoảng thời gian bạn trở
nên nhận biết về con kiến cắn, việc lắng nghe của bạn bị mất.
Việc nghe của bạn vẫn tiếp tục nhưng chú ý đã bị phân tán.
Vấn đề khác với chú ý là ở chỗ nó không thể đồng thời ở
trên hai điều một lúc, nó bao giờ cũng chỉ trên một đối tượng
mỗi lúc. Khi nó chuyển sang đối tượng kia, lập tức nó bị bỏ
khỏi đối tượng đầu. Nó có thể nhảy từ sự vật nọ sang sự vật
kia - và đấy chính là điều chúng ta vẫn làm. Kiến cắn chân,
chú ý chuyển ngay xuống đó; chú ý trở lại và bạn lắng nghe.
Bạn cảm thấy ngứa, chú ý của bạn nhảy tới nó; sau  đó nó
quay lại với việc nghe lần nữa. Cho nên có lỗ hổng trong
việc lắng nghe khi  chú ý chuyển đi  đâu  đó khác, và do  đó
không mấy sáng tỏ trong nghĩa có thể được thấy từ điều bạn
nghe vì nhiều thứ đã bị mất. Nhiều lần nghĩa được bạn suy
diễn ra theo ý riêng của mình, bởi vì nhiều thứ đã bị mất; và
điều bạn kết luận sau khi lấp vào lỗ hổng đó hoàn toàn là của
riêng bạn.

 

Bạn nghe, nhưng giữa chừng nghe, khi chú ý của bạn dời
đi, ai sẽ lấp vào không gian trống rỗng này? Bạn sẽ làm điều
đó. Tâm trí bạn, kí  ức bạn, thông tin của bạn, tri thức của
bạn, kinh nghiệm của bạn sẽ tràn vào những lỗ hổng đó. Và
bạn sẽ là người sáng tạo ra hình dạng cuối cùng, điều không
phải là điều đã được nói. Người nói điều đó tận cội
nguồn không chịu trách nhiệm về nó.
Lắng nghe nghĩa là tâm thức dịch chuyển về ngay tai,
không suy nghĩ, không lí trí hay tranh cãi bên trong. Điều
này không có nghĩa là bạn chấp nhận mọi thứ được nói mà
không hiểu. Nhưng chấp nhận không có vai trò gì trong quá
trình lắng nghe cả. Lắng nghe ngụ ý chỉ là lắng nghe thôi;
chấp nhận hay không chấp nhận là vấn đề về sau - không cần
phải vội vàng.

Chúng ta đang làm gì? Chúng ta đang nghe và đồng thời
chúng ta cứ chấp nhận hay bác bỏ. Đầu chúng ta tiếp tục gật
đồng ý hay lắc không đồng ý. Người ta cứ nói, 'Đúng, điều
ấy hoàn toàn đúng." Ai đó khác nói, "Không, điều ấy không
hấp dẫn tôi." Bản thân họ không nhận biết về sự gật đầu liên
tục này và quá trình tâm trí liên tục, nhưng tôi có thể quan
sát được nó.
Điều đó nghĩa là khi tôi nói điều gì đó, trong khi nghe nó
bạn cũng cứ quyết  định về nó  ở bên trong. Trong lúc bạn
đang quyết định, việc lắng nghe bị lỡ. Bản thân bạn không
nhận biết được rằng đầu bạn đã gật, nhưng bên trong bạn đã
đồng ý với cái gì đó, do đó có gật đầu. Khi tôi nói điều gì đó
không hấp dẫn bạn, đầu bạn cứ lắc phủ nhận, "Không, điều
ấy không hấp dẫn tôi." Đấy không phải là chuyển động của
đầu bạn, đấy là chú ý bên trong của bạn di chuyển. Chính bởi
vì chú ý di chuyển mà  đầu cũng di chuyển theo. Trong
chuyển dịch nhỏ bé đó mà việc lắng nghe của bạn bị mất.
Khi người ta nói rằng bạn không nên nghĩ trong khi lắng
nghe, điều đó không có nghĩa là bạn chấp nhận mọi thứ một
cách mù quáng. Không, tại điểm này không có vấn đề chấp
nhận hay bác bỏ, tại điểm này người ta chỉ phải lắng nghe
cho rõ điều đã được nói ra. Bạn phải lắng nghe đích xác điều
đã được nói; chỉ sau đó bạn sẽ có khả năng quyết định liệu
nên chấp nhận hay bác bỏ. 

Đem quá trình chấp nhận hay bác bỏ vào trong việc nghe
là bỏ lỡ việc lắng nghe. Nghe nghĩa là chỉ nghe thôi.
Ngay bây giờ chúng ta  đang lắng nghe. Ngay bây giờ
chúng ta sẽ không cứ suy nghĩ đồng thời nữa. Tâm trí không
thể làm hai việc một lúc; hoặc bạn nghe hoặc bạn nghĩ.
Những người nghĩ không có khả năng lắng nghe, còn những
người lắng nghe không có cách nào nghĩ đồng thời. Nhưng
chẳng vội vàng gì - suy nghĩ có thể được thực hiện muộn về
sau. Điều phải và đúng là trước hết người ta lắng nghe thế rồi
người ta nghĩ... bởi vì bạn sẽ nghĩ về cái gì? Nếu bạn không
nghe đúng, hay nếu bạn đã thêm cái gì đó của riêng bạn vào
điều bạn nghe, hay nếu có lỗ hổng trong điều bạn vừa nghe,
bạn sẽ nghĩ về cái gì? Bất kì điều gì bạn nghĩ, nó không có
giá trị. Nếu cái gì đó không được nghe đúng, việc suy nghĩ
về nó là vô tích sự.



Trích từ sách Ngón tay Chỉ trăng

Listening does not mean mere hearing. We can all hear, to have ears is enough for hearing. Hearing is a mechanical phenomenon. There was a sound, it fell on your ears and you heard it. But listening is not just this. Listening means that it has not been heard only by the ears, the vibrations have penetrated to the consciousness deep within you. Try to understand this a little.
You are going along a road, your house is on fire and you are running towards it. Somebody passing by on the road greets you. Your ears will hear it but you will not. The next day you will not be able to even recall that somebody greeted you on the road. When your house is on fire, if somebody is singing on the road your ears will hear it but not you.
Hearing with the ears is not listening by you. It is not necessary that if your ears heard, you also listened. The ears are necessary for listening but are not enough, something more is required within.
When your house is on fire, the greetings given to you are not heard by you. Why? The mechanism of your ears did not change but the attention to the ears is broken from within. The attention is with the house that is on fire. The ears are hearing, but the bridge of attention that is necessary to bring the contents to the consciousness is missing; that bridge has been removed. It is in use where the house is on fire. So the ears are able to hear but not you. The connection, the bridge of attention between you and the ears, is broken.
Listening means both you and your ears are present, connected - then listening happens. It is a difficult matter. To create the connection with the ears is a matter of spiritual endeavor.
Listening means that when you are hearing, your whole consciousness becomes the hearing; only the hearing remains, nothing else. No thoughts move within, because if there are thoughts moving within you, your attention is diverted into thinking and removed from the ears.
Attention is a very delicate and subtle thing. Any slight thinking going on inside and the attention moves to it. You are listening to me and an ant is biting your leg - it is not necessary for your house to be on fire - then for a period of time you become aware of the ant bite, your listening is lost. Your hearing continues but attention is diverted.
Another problem with attention is that it cannot be on two things simultaneously, it is always on one subject at a time. When it moves onto another subject it is immediately removed from the first. It can go on jumping from one to the other - and that is what we do. The ant bit the leg, the attention jumped there; attention came back again and you listened. You felt the sensation of itching, your attention jumped to it; afterwards it came back to hearing again. So there are gaps in the listening when the attention moves elsewhere, and therefore not much clarity in meaning can be found from what you hear because much is lost. Many times the meaning derived by you is your own, because much has been lost; and what you conclude after filling in the gaps is entirely your own.
If you are only hearing, you will understand only what you can understand and not what has been said, because a lot will be lost in between. And that which is lost, you will fill the gaps for yourself - because empty space always gets filled up.
You hear, but in between, when your attention moves away, who will fill up those empty spaces?
You will do that. Your mind, your memory, your information, your knowledge, your experience will penetrate those gaps. And you will be the creator of the final shape, which is not what has been truly said. The one who said it originally is not responsible for it.
Listening means that the consciousness shifts to the very ears, with no thoughts, reasoning or arguing within. This does not mean that you accept everything that is said without understanding.
But acceptance has no role in the process of listening. Listening means just listen; acceptance or nonacceptance are matters for later on - no need to be in a hurry.
What are we doing? We are hearing and at the same time we go on accepting or rejecting. Our heads continue to nod in agreement or shake in disagreement. One goes on saying, "Yes, it is perfectly true." Somebody else says, "No, it does not appeal to me." They themselves are not aware of this continuous nodding and the mental process, but I can watch it.
It means that as I say something, while hearing it you also go on making decisions about it internally.
For the period of time you are making decisions the listening will be missed. You yourself are not aware that your head nodded, but inside you agreed with something, hence the nodding. When I say something which does not appeal to you, your head goes on shaking in denial, "No, it is not appealing to me." It is not your head moving, it is your attention inside moving. It is because of the moving attention that the head is also moving. In that little movement your listening is lost.
When it is said that you should not think while listening, it does not mean that you accept everything blindly. No, at this point there is no question of acceptance or rejection, at this point one has only to listen well as to what has been said. You have to listen exactly to what has been said; only after that will you be able to decide whether to accept or reject.
To bring the process of acceptance or rejection in while hearing is to miss the listening. Hearing means only hearing.
Right now we are listening. Right now we will not go on thinking simultaneously. Mind cannot do two things at a time; either you listen or you think. Those who think are unable to listen, those who listen have no way of thinking at the same time. But there is no hurry either - thinking can be done later on. It is also just and proper that first one listens and then one thinks... because what will you think about? If you have not heard rightly, or if you have added something of your own onto what you heard, or if there are gaps in what you have heard, what will you think about? Whatever you will think, it has no value. If something is not heard rightly, thinking about it is futile. So the first step, the seers have said, is shravana, the listening.


http://oshosearch.net/Convert/Articles_Osho/Finger_Pointing_to_the_Moon/Osho-Finger-Pointing-to-the-Moon-00000010.html

Monday, June 2, 2014

Người ta luôn hiểu nhầm Phật


Người ta luôn hiểu nhầm Phật (chọn phần phụ đề tiếng Việt)

OSHO: A Buddha Will Be Misunderstood (1 of 2)


Sunday, June 1, 2014

Matthieu Ricard bàn về các thói quen đem lại hạnh phúc


Matthieu Ricard bàn về các thói quen đem lại hạnh phúc 

Matthieu Ricard, được các nhà khoa học gọi là người hạnh phúc nhất trên trái đất, một nhà nghiên cứu về tế bào di truyền, đã từ bỏ cuộc sống hiện đại danh vọng, phù hoa, tìm về Tây Tạng, trở thành tu sĩ Phật giáo và là thị giả thân cận của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Chữ TÂM

"Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ tài"…
Người Việt Nam chúng ta hầu như ai ai cũng thuộc nằm lòng câu thơ trên trong Tập Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, và đều quý chuộng giá trị của “Chữ TÂM” đích thực trong cuộc đời. Chữ TÂM phát xuất từ “tim”, “lòng”, nhưng không hiểu theo nghĩa đen mà lại mang ý nghĩa tinh thần rộng lớn hơn nhiều, có thể hiểu là “con tim” hoặc “tấm lòng” bao dung, nhân ái, chân thành và cao cả nhất. Người Việt Nam rất coi trọng chữ “Tâm” vì “cái Tâm” của con người còn quan trọng hơn cả những tài năng của họ. Người có tài mà “ác tâm” thì chỉ là một hiểm họa cho xã hội. Cái “Tâm” chính là tâm hồn, là tình cảm, là tấm lòng, là những gì thuộc lãnh vực tâm lý và tâm linh của con người. “Tâm” không chỉ là suy tư của lý trí mà còn là tình cảm, là những cảm xúc tốt đẹp... Biểu hiện của chữ Tâm chính là tình cảm thương yêu, trân trọng con người và thiên nhiên, là những nỗ lực dựng xây một cuộc sống tốt đẹp, nhằm đem lại an bình hạnh phúc cho con người.



Các tôn giáo đều đề cao chữ Tâm, thể hiện qua những cách diễn đạt khác nhau. Đạo Công Giáo đề cao lòng bác ái – yêu thương và mời gọi ta “đổi mới Tâm Lòng”, đạo Phật đề cao phẩm hạnh từ bi, hỉ xả, và dạy phải “Minh Tâm Kiến Tánh”, đạo Lão nhắc mọi người phải “Luyện Tánh Tu Tâm”, Khổng giáo lại khuyên “Dưỡng Tánh Tồn Tâm”… Cái Tâm chính là động lực thúc đẩy và chi phối mọi hoạt động con người, điều khiển ý thức và cảm xúc của họ, từ đó biểu hiện ra bằng các hành vi cụ thể trong cuộc sống và các mối tương quan. Vì thế mà chúng ta cần phải sửa mình, trau dồi tập luyện để cái Tâm của mình luôn hướng thiện, qui về những giá trị tốt đẹp. Điều đó giúp cuộc sống chúng ta ngày càng phong phú hơn và luôn có những nghĩa cử cao quý; cách sống phù hợp với đạo lý làm người.
Gặp gỡ các bạn bè Phật Giáo và Cao Đài, tôi thường hay nghe câu chúc “Thân - Tâm An Lạc”. Tôi nghiệm thấy điều này thật chí lý và dễ thương. Cả hai phần phải đi đôi với nhau vì “Thân” và “Tâm” của mỗi người không tách rời nhau! Tâm hồn và thân xác chúng ta cùng hiện diện trong một thực thể của chính cái tôi. Khi ta đau khổ, giận dữ, bực bội, âu lo hoặc thù hận thì sẽ khiến cho cái “Tâm” không còn yên ổn nữa. Lúc đó ta phải “tịnh tâm” để tìm kiến lại sự “bình tâm”. Người có cái “Tâm” thực sự sẽ có khả năng để sống đức ái, yêu thương, nhân hậu như Lời Chúa trong thư của thánh Phaolô dạy: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy điều gian ác…” (1 Cr 13, 4-6).


Cái “Tâm” an bình của một người sẽ thể hiện ra nơi lòng biết ơn, trân trọng, sự cảm thông, quan tâm đến mọi người và nhất là khả năng tha thứ, nhận ra điều tốt nơi người khác và nơi các biến cố xảy ra trong cuộc sống. Có một câu chuyện ngắn (sưu tầm trên mạng) mang tựa đề là “Hãy tha thứ để nhẹ tâm”, kể về một thiền sinh được vị thầy giúp khám phá ra rằng sự bình tâm hệ tại nơi chính bản thân mình, chứ không do các yếu tố bên ngoài gây nên. Chuyện kể rằng, người đệ tử hỏi: “Thưa sư phụ, con đau khổ vì cha mẹ tàn nhẫn, vợ con ruồng bỏ, anh em phản bội, bạn bè phá hoại… Con phải làm sao để rũ bỏ được oán hờn và thù ghét đây?” Vị sư phụ đáp: “Con hãy ngồi xuống tịnh tâm, tha thứ hết cho họ”.
Vài hôm sau, người đệ tử trở lại: “Con đã tha thứ cho họ rồi sư phụ ạ. Nhẹ cả người! Coi như xong”. Sư phụ đáp:“Chưa xong, con hãy về tịnh tâm, mở hết lòng ra và thương yêu họ”. Người đệ tử gãi đầu: "Tha thứ thôi cũng đã quá khó, lại phải thương họ thì...Thôi được, con sẽ cố làm". Một tuần sau, người đệ tử trở lại, mặt vui vẻ hẳn khoe với sư phụ là anh đã làm được việc thương những người mà trước đây đã từng đối xử tệ bạc với mình. Sư phụ gật gù bảo: “Tốt! Bây giờ con về tịnh tâm, ghi ơn họ. Nếu không có họ đóng những vai trò đó thì con đâu có cơ hội tiến hóa tâm linh như vậy”...


Lần sau người đệ tử trở lại gặp thầy, tin tưởng rằng mình đã học xong bài thầy dạy. Anh hớn hở thưa rằng mình đã ghi ơn hết mọi người vì nhờ họ mà anh đã học được sự tha thứ! Sư phụ cười: “Vậy thì con về tịnh tâm lại đi nhé. Họ đã đóng đúng vai trò của họ chứ họ có lầm lỗi gì mà con tha thứ hay không tha thứ?”... Thế đấy, một “cái tâm” an bình thực sự không bao giờ giận hờn oán ghét ai, nên ngay cả sự thứ tha cho người cũng không cần đến. Câu chuyện giúp mỗi người chúng ta biết mở rộng tâm lòng của mình để khám phá ra rằng mỗi biến cố, mỗi con người đi ngang qua cuộc đời ta đều có một vai trò nhất định. Để có được “nhân tâm” thực sự, chúng ta phải mở rộng lòng mình cho một cách sống cởi mở, khoan dung, quảng đại, từ ái, luôn nhẹ nhàng niềm nở và ân cần quan tâm đến mọi người xung quanh.
Trước những suy thoái về đạo đức trong xã hội hiện nay, gương sống với cái Tâm chân thành thật hiếm hoi… Một câu chuyện khác có tựa đề “Đừng xét đoán” của tác giả Jac. Thế Hanh, OP, mà một người bạn gởi đến cho tôi qua email đã để lại cho tôi những cảm xúc trái ngược, vừa cảm phục cái Tâm khiêm tốn của vị bác sĩ, vừa buồn cho sự vô tâm đầy vị kỷ của người cha... Câu chuyện kể rằng vừa nhận được điện thoại, bác sĩ đã vội vã tới bệnh viện. Ông khoác vội trang phục phẫu thuật và tiến ngay tới phòng mổ. Lúc đó, người cha của cậu bé sắp sửa được phẫu thuật đang ngồi đợi tại cửa phòng. Nhìn thấy bóng bác sĩ, người cha nói ngay : “Tại sao giờ này ông mới đến? Ông không hay biết con trai tôi rất nguy kịch sao? Thực lòng ông có trách nhiệm nghề nghiệp không vậy?” 
Bác sĩ điềm tĩnh trả lời : “Thật xin lỗi, lúc này không phải ca tôi trực nên tôi không có mặt tại bệnh viện. Thế nhưng vừa nhận được điện báo tôi đến ngay đây… Và lúc này tôi muốn tịnh tâm một chút để chuẩn bị phẫu thuật”. Người cha giận dữ : “Tịnh tâm à?! Giả như con của ông đang nằm trong phòng cấp cứu ông có tịnh tâm được không? Nếu con trai ông sắp chết, ông sẽ làm gì?” Vị bác sĩ lại mỉm cười trả lời : “Tôi sẽ nói điều mà ông Gióp đã nói trong Kinh Thánh: ‘Thân trần truồng sinh từ bụi đất, tôi sẽ trở về bụi đất trần truồng. Chúa đã sinh ra, Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng Chúa’. Các bác sĩ không có khả năng giữ lại mạng sống. Ông hãy đi và cầu nguyện cho con trai ông. Chúng ta sẽ nỗ lực hết mình và cậy trông vào ân sủng Thiên Chúa”.  
“Khuyên lơn người khác khi mà bản thân mình chẳng dính dáng gì xem ra quá dễ dàng”! Người cha phàn nàn... Thế rồi cửa phòng phẫu thuật đóng lại. Vị bác sĩ miệt mài vài giờ liền cho ca mổ. Và ông rời khỏi phòng phẫu thuật trong niềm hạnh phúc : “Cảm tạ Chúa. Con trai ông đã được cứu. Nếu muốn biết thêm chi tiết, hãy hỏi cô ý tá vừa giúp tôi”. Không chờ câu trả lời của người cha, vị bác sĩ tiến thẳng và rời khỏi bệnh viện...  
Ngay khi nhìn thấy dáng dấp cô y tá xuất hiện, người cha nói ngay : “Loại người gì mà lại cao ngạo đến như thế kia chứ! Thậm chí ông ta không thèm dành vài giây trả lời cho tôi biết hiện trạng con trai tôi”... Cô y tá cúi xuống, tuôn trào nước mắt trong xúc động, cô chậm rãi trả lời: “Ông đừng nghĩ thế! Con trai duy nhất của bác ấy mới qua đời hôm qua do một tai nạn. Hôm nay bác ấy đang lo tang sự cho cậu. Thế nhưng vừa nhận được điện báo, bác ấy tới ngay để cứu con trai ông. Bây giờ thì bác ấy vội trở về tiếp tục lo hậu sự cho đứa con yêu quý của mình”...
Không nói ra nhưng ai trong chúng ta cũng thấy rằng “cái tâm” của vị bác sĩ trong câu chuyện thật đáng trân trọng vì ông đã gạt nỗi đau của bản thân để tận tâm lo cho người khác và không hề bực bội khi bị trách móc cách vô lý. Câu chuyện nhắc chúng ta đừng nên xét đoán hoặc kết án ai, vì chúng ta không biết cuộc sống của người khác như thế nào, cũng như điều gì đang diễn ra trong tâm hồn họ và những gì họ đang phải nỗ lực vượt qua. Nhưng trong thực tế chúng ta khó thực hiện nếu không kiên tâm bền chí tập luyện cho mình.
Tôi rất thích những câu chuyện kể về chữ Tâm cao cả, và học được nơi đó nhiều bài học cho chính bản thân mình. Một câu chuyện xảy ra tại Nhật liên quan đến trận động đất vào tháng 3/2011 vừa qua. Sau khi động đất qua đi, lực lượng cứu hộ bắt đầu các hoạt động tìm kiếm cứu nạn. Và khi họ tiếp cận với đống đổ nát từ ngôi nhà của một phụ nữ trẻ, họ nhìn thấy thi thể của cô qua các vết nứt. Nhưng tư thế của cô có gì đó rất lạ, tựa như một người đang quỳ gối cầu nguyện; cơ thể nghiêng về phía trước, và hai tay cô đang đỡ lấy một vật gì đó. Ngôi nhà sập lên lưng và đầu cô.
Đội trưởng đội cứu hộ đã gặp rất nhiều khó khăn khi anh luồn tay mình qua một khe hẹp trên tường để với tới thi thể nạn nhân. Anh hy vọng rằng, người phụ nữ này có thể vẫn còn sống. Thế nhưng cơ thể lạnh và cứng đờ cho thấy cô đã chết. Cả đội rời đi và tiếp tục cuộc tìm kiếm ở tòa nhà đổ sập bên cạnh. Không hiểu sao, viên đội trưởng cảm thấy như bị một lực hút kéo trở lại ngôi nhà của người phụ nữ. Một lần nữa, anh quỳ xuống và luồn tay qua khe hẹp để tìm kiếm ở khoảng không nhỏ bên dưới xác chết. Bỗng nhiên, anh hét lên sung sướng: "Một đứa bé! Có một đứa bé!"...
Cả đội đã cùng nhau làm việc; họ cẩn thận dỡ bỏ những cái cọc trong đống đổ nát xung quanh người phụ nữ. Có một cậu bé 3 tháng tuổi được bọc trong một chiếc chăn hoa bên dưới thi thể của người mẹ. Rõ ràng, người phụ nữ đã hy sinh để cứu con mình. Khi ngôi nhà sập, cô đã lấy thân mình làm tấm chắn bảo vệ con trai. Cậu bé vẫn đang ngủ một cách yên bình khi đội cứu hộ nhấc em lên... Bác sĩ đã nhanh chóng kiểm tra sức khỏe của cậu bé. Sau khi mở tấm chăn, ông nhìn thấy một điện thoại di động bên trong. Có một tin nhắn trên màn hình, viết là: "Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng mẹ rất yêu con"!
Chiếc điện thoại di động ấy đã được truyền từ tay người này sang tay người khác. Tất cả những ai đã đọc mẩu tin trên đều không ngăn nổi dòng nước mắt: "Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng mẹ rất yêu con"... Tôi cảm nhận được rằng tình cảm chân thực của con người dành cho nhau phải được thể hiện cụ thể qua sự hy sinh quên mình, dấn thân phục vụ vì yêu thương mà không tính toán... Như thế chữ Tâm không phải chỉ là một khái niệm trừu tượng xa xôi, mà nó hiện diện ngay trong cuộc sống rất đời thường của mỗi người chúng ta. Nó được thể hiện cụ thể qua từng hành động chúng ta làm, qua tinh thần trách nhiệm của chúng ta đối với công việc, qua cách tiếp đón ân cần niềm nở, qua cách hành xử đầy lòng nhân ái, trân trọng mọi người…
Bên cạnh đó, chữ Tâm còn mang nhiều ý nghĩa khác trái ngược, vì cả thiện lẫn ác cũng đều do Tâm sinh ra. Người có cái tâm hẹp hòi, gian xảo và đầy tham sân si, thì cuộc sống của họ cũng đầy dối trá lọc lừa và chiếm hữu. Người có cái tâm ghen ghét đố kỵ thì cuộc sống chất đầy hận thù bực bội. Người vô tâm hèn hạ thì cuộc sống mất đi phẩm cách tốt đẹp. Người ác tâm và hung bạo thì cuộc sống bất an, luôn hằn học và là mối nguy hiểm cho mọi người... Trong mỗi chúng ta nhiều khi cũng có những khuynh hướng xấu xa đó. Vì thế chúng ta cần rèn luyện và tu dưỡng cái Tâm của mình. Khi cố gắng tập luyện và kiên trì sống những phẩm chất tốt đẹp của con người, chúng ta sẽ nhạy bén hơn để cảm nhận và chia sẻ với những nỗi khổ của tha nhân, sẵn sàng sẻ chia giúp đỡ người khác mà không tính toán thiệt hơn, cởi mở và chân thành cộng tác trong những việc công ích...          
 Người có cái Tâm thật sự cũng dám thẳng thắn tỏ rõ quan điểm của mình trước những điều sai trái mà không vị nể, dám lên tiếng trước những thói hư, tật xấu, luôn đứng về phía sự thật và bênh đỡ người cô thế, không tìm lý lẽ biện minh cho mình, không dùng quyền hành áp đặt người khác, biết coi trọng các giá trị đạo đức tốt và cổ võ cho những gì là Chân – Thiện – Mỹ... Con người có cuộc sống hạnh phúc hay đau khổ, thiết tưởng cũng tùy thuộc ở chỗ họ biết giữ cho Tâm của mình luôn hướng Thiện, hay là để cho sự Ác chi phối, điều khiển nó.
Nguyện xin cho mỗi người chúng ta dù sống trong hoàn cảnh nào cũng luôn giữ được một cái Tâm an bình và kiên định trong một lý tưởng sống vững chắc. Như thế chúng ta có thể đạt được cái gọi là “Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” (trích trong bài thơ của một thiền sư). Nhờ đó chúng ta mới hiểu được chân giá trị của những bão táp, những nghịch cảnh của cuộc đời, có khả năng đứng vững trước những thách đố trong cuộc sống, và góp phần xây dựng bình an hạnh phúc xung quanh ta.

(Bài viết đăng trong tập san Nhịp cầu Tâm Giao 08 của Ban Đối Thọai Liên Tôn / TGP Tp.HCM, phát hành vào cuối tháng 3/2012)
Nữ tu Ngọc Lan

http://tamxuandalat.blogspot.com/2012/03/tan-man-ve-chu-tam_11.html



Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More